CEO, biến động dòng tiền và cấu trúc vốn của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam
Nguyen Hai Yen
DOI:
Email: yennh@uel.edu.vn
Đơn vị công tác: dai hoc Kinh te- Luat
Ngày nhận bài: 25/10/2020
Ngày nhận bài sửa:
27/02/2021
Ngày duyệt đăng: 23/07/2021
Lượt xem: 12
Downloads: 2
Các định dạng trích dẫn
Tóm tắt
Nghiên cứu này kiểm định tác động của biến động dòng tiền lên cấu trúc vốn của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn 2008-2019. Tác giả sử dụng phương pháp GMM hệ thống để xem xét sự tác động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy tồn tại mối quan hệ ngược chiều giữa biến động dòng tiền và cấu trúc vốn của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu. Đặc biệt, khác với những nghiên cứu trước đây về biến động dòng tiền, nghiên cứu tiến hành kiểm định thêm ảnh hưởng kinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính của tổng giám đốc/giám đốc doanh nghiệp (CEO) đến mối quan hệ giữa biến động dòng tiền và cấu trúc vốn. Kết quả kiểm định cho thấy biến động dòng tiền có tác động dương đến cấu trúc vốn khi CEO có kinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính, ngược lại biến động dòng tiền có tác động âm đến cấu trúc vốn khi CEO không có kinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính.
Từ khóa
biến động dòng tiền, cấu trúc vốn, CEO, kinh nghiệm tài chính
2026, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu, chính sách tiền tệ (CSTT) ngày càng trở nên khó đoán định bởi những biến động không ngừng của nền kinh tế vĩ mô. Nghiên cứu này đi vào phân tích tác động của bất định CSTT đến chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp Việt Nam. Sử dụng phương pháp hồi quy với hiệu ứng cố định trên dữ liệu doanh nghiệp phi tài chính niêm yết, kết quả cho thấy bất định CSTT làm gia tăng đáng kể chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp, và tác động này được thể hiện lên cả chi phí nợ vay và chi phí vốn chủ sở hữu. Kết quả nghiên cứu này không thay đổi sau khi kiểm định tính vững bằng nhiều phương pháp khác nhau. Bên cạnh đó, chất lượng thể chế địa phương, cụ thể là tính minh bạch, chi phí thời gian và chi phí không chính thức, đóng vai trò điều tiết tác động tiêu cực này. Các kết quả này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cân nhắc hệ quả của CSTT tới chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp cũng như sự cần thiết của việc cải thiện tính minh bạch và thủ tục hành chính của môi trường kinh doanh nhằm tạo điều kiện ổn định cho doanh nghiệp phát triển. <br><br>Abstract<br>
As Vietnam continues to deepen its integration into the global economy, monetary policy has become increasingly difficult to predict amid ongoing macroeconomic volatility. This study examines the impact of monetary policy uncertainty on the cost of capital of Vietnamese firms. Using fixed-effects regressions on a panel of listed non-financial companies, the results show that monetary policy uncertainty significantly increases firms’ cost of capital, reflecting via both the cost of debt and equity. These findings remain robust across various alternative robustness checks. Moreover, local institutional quality, particularly transparency, time cost and informal charges, plays a moderating role in mitigating this adverse effect. These results highlight the importance of considering the cost of capital implications of monetary policy and the necessity of improving the business environment to create stable conditions for firms to grow.
2026, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Nghiên cứu này phân tích tác động của phát triển công nghệ tài chính (FinTech) đến hiệu quả hoạt động của 214 ngân hàng thuộc năm quốc gia Đông Nam Á trong giai đoạn 2010–2023, đồng thời xem xét vai trò điều tiết của chất lượng quản trị quốc gia trong mối quan hệ này. Bằng cách kết hợp các phương pháp hồi quy Pooled OLS và GMM, kết quả cho thấy FinTech có ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận ngân hàng, đặc biệt đối với các ngân hàng quy mô nhỏ do áp lực cạnh tranh gia tăng. Tuy nhiên, FinTech góp phần làm giảm tỷ lệ nợ xấu nhờ mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng cho các nhóm khách hàng rủi ro thấp. Hơn nữa, tác động tích cực của FinTech đến hiệu quả hoạt động ngân hàng được ghi nhận rõ rệt hơn ở các quốc gia có chất lượng quản trị cao. Các kết quả vẫn duy trì độ tin cậy sau khi kiểm soát vấn đề nội sinh giữa FinTech và hiệu quả hoạt động ngân hàng. <br><br> Abstract <br>
This paper examines how financial technology (FinTech) influences the performance of 214 commercial banks across five Southeast Asian countries between 2010 and 2023, with a particular emphasis on the moderating role of national governance quality. Using Pooled OLS and GMM estimations, the results indicate that an increase in FinTech startups is associated with lower bank profitability, especially among smaller banks, due to intensified market competition. Nevertheless, FinTech development helps reduce non-performing loan ratios by expanding credit access to underserved segments. Moreover, the study finds that the beneficial impact of FinTech on bank performance is significantly stronger in countries with higher governance quality. These results remain robust after accounting for dynamic endogeneity within the FinTech–bank performance nexus.
2025, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Bài viết này kiểm định ảnh hưởng của tính bất định chính sách kinh tế đến mức độ phát thải carbon và ý nghĩa kinh tế đối với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp của năm quốc gia thuộc khu vực Châu Á. Dựa trên mẫu dữ liệu gồm 21.501 quan sát trong giai đoạn 2002-2022 và vận dụng phương pháp hồi quy GMM, kết quả nghiên cứu cho thấy tính bất định của chính sách kinh tế có mối tương quan thuận chiều với mức độ phát thải carbon ở cấp độ doanh nghiệp. Tác động này mạnh hơn đối với các công ty đang hoạt động tại các quốc gia có mức độ kiểm soát tham nhũng kém. Hơn nữa, bất định trong chính sách kinh tế làm suy giảm đáng kể hiệu suất hoạt động của các tổ chức kinh doanh có mức độ phát thải cao. <br><br>Abstract<br>
This paper investigates the effect of economic policy uncertainty on carbon emission intensity and its economic significance for firm performance in five countries within the Asia region. Based on a dataset comprising 21,501 observations from the period 2002 to 2022 and employing two-step System-GMM regression, the study finds that economic policy uncertainty is positively correlated with firms’ carbon emission levels. This effect is more pronounced for firms operating in countries with poor control of corruption. Furthermore, facing economic policy uncertainty significantly reduces the performance of firms with high emission intensity.
2025, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Bài nghiên cứu này đánh giá tác động của hoạt động đổi mới sáng tạo (ĐMST) đến kết quả kinh doanh (KQKD) của 18 ngân hàng niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) và sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) trong giai đoạn từ năm 2010 đến thời điểm ngày 31/12/2020. Kết quả mô hình hồi quy đa biến của bài nghiên cứu đã chỉ ra rằng ĐMST quy trình có tác động tích cực đến KQKD của các ngân hàng. Tuy nhiên, hoạt động ĐMST tổ chức có tác động ngược chiều đến KQKD. Trong khi đó, hoạt động ĐMST sản phẩm không thể hiện mối quan hệ với KQKD của ngân hàng.
2025, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Sử dụng dữ liệu từ 431 ngân hàng thương mại tại Hoa Kỳ trong giai đoạn 2006-2021, nghiên cứu này phân tích tác động của rủi ro địa chính trị đến rủi ro phá sản của ngân hàng thương mại. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rủi ro địa chính trị làm gia tăng rủi ro phá sản của ngân hàng. Trong đó các sự kiện địa chính trị gây ra tác động tiêu cực lớn hơn đến rủi ro ngân hàng so với các mối đe dọa địa chính trị. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng phát hiện ra rằng rủi ro địa chính trị làm tăng rủi ro phá sản ngân hàng thương mại thông qua việc làm giảm lợi nhuận và làm tăng biến động lợi nhuận của ngân hàng. <br><br>Abstract<br>Using a panel of 431 commercial banks in the United States over the period 2006–2021, this paper examines the impact of geopolitical risk on bank risk-taking. Our regression results indicate that geopolitical risk increases bank default risk. Delving into the components of geopolitical risk, the authors find that the negative effects of geopolitical acts on bank risk-taking are more pronounced than those of geopolitical threats. Besides, the authors find that reducing bank profitability and increasing earnings volatility are two channels through which geopolitical risk increases bank risk-taking