Ảnh hưởng của chất lượng hoạt động kiểm toán nội bộ đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận: Nghiên cứu thực nghiệm tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Tran Thi Giang Tan & Tang Thi Thanh Thuy
DOI:
Email: tankt@ueh.edu.vn
Đơn vị công tác: KHOA Ke TOaN - daI HoC KINH Te
Ngày nhận bài: 17/10/2018
Ngày nhận bài sửa:
30/12/2018
Ngày duyệt đăng: 28/04/2020
Lượt xem: 51
Downloads: 0
Các định dạng trích dẫn
Tóm tắt
Nghiên cứu này nhằm đánh giá ảnh hưởng của chất lượng hoạt động kiểm toán nội bộ đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua chi phối chính sách kế toán tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Mẫu nghiên cứu bao gồm 92 công ty niêm yết (với 368 quan sát) trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội trong giai đoạn 2014–2017. Kết quả nghiên cứu cho thấy chất lượng hoạt động kiểm toán nội bộ được đo lường bằng năng lực chuyên môn, tính khách quan và quy mô cho hoạt động này có ảnh hưởng ngược chiều đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Dựa trên kết quả nghiên cứu, tác giả kiến nghị các công ty niêm yết cần tổ chức bộ phận kiểm toán nội bộ có chất lượng, trong đó chú ý đến năng lực chuyên môn, tính khách quan, quy mô kiểm toán nội bộ như là phương tiện giám sát nhà quản lý đối với hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Về phương diện kiểm toán, khi sử dụng công việc của kiểm toán viên nội bộ, cần chú ý chất lượng hoạt động kiểm toán nội bộ thể hiện qua năng lực chuyên môn, tính khách quan và quy mô của kiểm toán nội bộ để xác định phạm vi, nội dung và thủ tục kiểm toán tiếp theo.
Từ khóa
Kiểm toán nội bộ; Chất lượng kiểm toán nội bộ; Hành vi điều chỉnh lợi nhuận; Biến dồn tích bất thường.
2026, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Nghiên cứu xem xét tác động phi tuyến của sở hữu nước ngoài đến mức nắm giữ tiền của các công ty ngành hàng tiêu dùng niêm yết tại Việt Nam, đồng thời xem xét sự thay đổi của mối quan hệ này trước, trong và sau đại dịch COVID-19. Sử dụng 688 quan sát của 86 công ty giai đoạn 2017–2024, kết quả cho thấy mối quan hệ hình chữ U ngược giữa sở hữu nước ngoài và nắm giữ tiền. Mối quan hệ này duy trì qua ba giai đoạn nhưng điểm cực đại khác nhau: 28,5% trước COVID-19, giảm còn 11,4% trong đại dịch và tăng lên 18,2% sau đại dịch. Sự suy giảm mạnh trong giai đoạn COVID-19 cho thấy doanh nghiệp điều chỉnh chính sách thanh khoản trong bối cảnh bất ổn. Kết quả nhấn mạnh vai trò của sở hữu nước ngoài trong quyết định nắm giữ tiền và cung cấp hàm ý quản trị cho doanh nghiệp cũng như cơ quan hoạch định chính sách. <br><br> Abstract <br>
The study examines the nonlinear effect of foreign ownership on cash holdings of listed consumer-goods firms in Vietnam, and investigates how this relationship changes before, during, and after the COVID-19 pandemic. Using a sample of 688 firm-year observations from 86 firms over the period 2017-2024, the results reveal an inverted U-shaped relationship between foreign ownership and cash holdings. Although this relationship persists across all three subperiods, the turning point varies significantly: 28.5% before COVID-19, declining to 11.4% during the pandemic, and rising to 18.2% in the post-pandemic period. The sharp decrease during COVID-19 suggests that firms adjusted their liquidity policies in response to heightened uncertainty. The results highlight the importance of foreign ownership in shaping corporate cash holding decisions and provide implications for both managers and policymakers.
2026, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Nghiên cứu này xem xét ảnh hưởng của đạo đức lãnh đạo đến nhận thức gian lận, đồng thời phân tích vai trò trung gian của môi trường an toàn tâm lý trong mối quan hệ này. Dữ liệu được thu thập từ 249 kiểm toán nội bộ đang làm việc tại các doanh nghiệp ở Việt Nam thông qua khảo sát bằng bảng câu hỏi. Kết quả nghiên cứu được kiểm định mô hình đo lường và mô hình cấu trúc thông qua phần mềm SmartPLS4 đánh giá các qỉa thuyết. Kết quả cho thấy đạo đức lãnh đạo có tác động tích cực đến nhận thức gian lận và môi trường an toàn tâm lý đóng vai trò trung gian đáng kể trong mối quan hệ giữa hai yếu tố này. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đưa ra các hàm ý lý thuyết và thực tiễn liên quan đến việc thúc đẩy đạo đức lãnh đạo và nâng cao nhận thức gian lận trong tổ chức. <br><br>Abtract<br>
This study examines the effect of ethical leadership on fraud awareness and analyzes the mediating role of psychological safety climate in this relationship. Data were collected from 249 internal auditors working in Vietnamese enterprises through a questionnaire survey. The measurement model and structural model were assessed using SmartPLS 4 to test the proposed hypotheses. The findings indicate that ethical leadership has a positive impact on fraud awareness, while psychological safety climate plays a significant mediating role in the relationship between these two variables. Based on these results, the study provides important theoretical and practical implications for promoting ethical leadership and enhancing fraud awareness within organizations.
2025, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Nghiên cứu này sử dụng kỹ thuật hồi quy phương pháp bình phương nhỏ tổng quát khả thi (FGLS) để kiểm tra tác động của kinh nghiệm CEO đến hiệu quả tài chính của các công ty phi tài chính niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) từ năm 2013 đến năm 2022. Kết quả cho thấy mối quan hệ tiêu cực giữa kinh nghiệm CEO trước đây và hiệu quả công ty. Hơn nữa, mối quan hệ này thể hiện mô hình hình chữ U ngược phi tuyến tính: hiệu quả tài chính ban đầu được cải thiện khi số năm kinh nghiệm CEO tăng lên, đạt đỉnh điểm sau khoảng 10 năm, sau đó hiệu ứng bắt đầu giảm dần. Điều quan trọng là, trong đại dịch COVID-19, các yếu tố như khả năng thích ứng, đổi mới và khả năng phản ứng linh hoạt có thể quan trọng hơn đối với thành công của công ty so với kinh nghiệm điều hành tích lũy trong quá khứ. <br><br> Abstract <br>
This study employs Feasible Generalized Least Squares (FGLS) regression to examine the linear and nonlinear effects of CEO experience on the financial performance of non-financial firms listed on the Ho Chi Minh City Stock Exchange (HOSE) over the period 2013–2022. The findings indicate a negative relationship between CEO experience and financial performance, accompanied by an inverted U-shaped nonlinear pattern, whereby financial performance initially rises with increasing years of CEO experience, reaches a peak at approximately 10 years, and subsequently declines. Moreover, during the COVID-19 pandemic, prior accumulated executive experience does not significantly enhance financial performance, highlighting the limitations of traditional experience in adapting to unprecedented economic shocks.
2025, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Bài viết này nghiên cứu về ảnh hưởng của giới tính nhân sự quản lý cấp cao đến tốc độ điều chỉnh cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Với mẫu gồm 599 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2008-2020, kết quả nghiên cứu cho thấy doanh nghiệp có CEO là nữ và tỷ lệ thành viên nữ trong hội đồng quản trị càng lớn thì có độ điều chỉnh cấu trúc vốn hướng đến mục tiêu càng cao. Bên cạnh đó, các phân tích mở rộng cho thấy quy mô của doanh nghiệp cũng ảnh hưởng đến mối quan hệ này, các doanh nghiệp có quy mô nhỏ thì mối quan hệ càng chặt chẽ. <br><br> Abstract <br>
This paper investigates how top managers’ gender affects the adjustment speed of capital structure. With a sample of 599 firms listed in the Vietnamese stock market, the authors find that firms with female CEOs and a higher proportion of female in board members have higher adjustment speed of capital structure. Besides, our additional analysis shows that this relationship is stronger in small firms.
2025, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Vấn đề hành vi quản trị lợi nhuận (QTLN) là yêu cầu cần thiết đóng vai trò quan trọng trong quá trình quản trị điều hành với mục đích tạo điều kiện cho hội đồng quản trị (HĐQT) giám sát lợi nhuận, tuy nhiên để đạt mục tiêu của mình, HĐQT có thể lợi dụng công cụ kế toán để làm sai lệch báo cáo tài chính theo hướng có lợi cho thành viên quản lý xuất phát từ công ty gia đình, đặc biệt do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19. Chính vì vậy, nghiên cứu này xem xét ảnh hưởng của bốn đặc điểm của HĐQT đến hành vi QTLN trong các công ty gia đình niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trước và trong đại dịch COVID-19. Dữ liệu gồm 123 công ty gia đình niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội từ 2016 – 2021 tạo thành 738 quan sát. Nghiên cứu chỉ ra rằng Quy mô HĐQT, tính Độc lập của HĐQT có tác động ngược chiều đến hành vi QTLN; trong khi, Chuyên môn trong lĩnh vực kế toán tài chính của HĐQT, và các cuộc họp HĐQT có tác động cùng chiều đến hành vi QTLN trong giai đoạn COVID-19. Bên cạnh đó, Quy mô HĐQT và tính Độc lập của HĐQT ở giai đoạn trước đại dịch COVID-19 không ảnh hưởng đến hành vi QTLN. <br><br> Abstract <br>
Earnings management plays a significant role within the operational management process, aimed at facilitating the supervisory function of the Board of Directors (BOD) over profit-related matters. Nevertheless, in pursuit of their objectives, the BOD may exploit accounting tools to manipulate financial reporting in a direction advantageous to the executive members, particularly emanating from family-owned firms, exacerbated notably by the impact of the COVID-19 pandemic. Therefore, this paper examines four characteristics of BOD that influence earnings management in family-owned firms listed on the Vietnamese stock market before and during the COVID-19 pandemic. The data consists of 123 family firms listed on the Ho Chi Minh City Stock Exchange and the Hanoi Stock Exchange from 2016 to 2021, resulting in 738 observations. The study reveals that BOD size and BOD independence negatively impact earnings management; whereas expertise in financial accounting, and the frequency of BOD meetings positively impact earnings management during the COVID-19 period. Additionally, BOD size and BOD independence in the pre-COVID-19 period do not influence earnings management.