Mô hình nghiên cứu tác động giữa các yếu tố đáp ứng và mức độ phù hợp của phần mềm đến sự thành công của quá trình ứng dụng các phần mềm kế toán đóng gói tại các doanh nghiệp Việt Nam
Bui Quang Hung
DOI:
Email: bqhung@ueh.edu.vn
Đơn vị công tác: Truong dai hoc Kinh te TP. Ho Chi Minh
Ngày nhận bài: 19/10/2018
Ngày nhận bài sửa:
24/10/2018
Ngày duyệt đăng: 28/04/2020
Lượt xem: 61
Downloads: 0
Các định dạng trích dẫn
Tóm tắt
Việc ứng dụng PMKTĐG là xu hướng chủ yếu trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam. Vì vậy, việc nghiên cứu cách thức và nhận diện các yếu tố để triển khai thành công quá trình này là điều cần thiết. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về quá trình ứng dụng công nghệ thông tin nói chung và kế toán nói riêng, Tuy nhiên, cần phải có 1 cách tiếp cận phù hợp với quy mô, đặc điểm ứng dụng phần mềm kế toán tại Việt Nam. Bài viết tổng quan các lý thuyết đã nghiên cứu liên quan để đề xuất mô hình tiếp cận theo mức độ phù hợp của PMKTĐG và các yếu tố đáp ứng để nghiên cứu và kiểm định tại Việt Nam.
Từ khóa
Phần mềm kế toán đóng gói; Sự phù hợp; Mức độ đáp ứng; Ứng dụng phần mềm thành công.
2026, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Nghiên cứu kiểm định mối liên hệ giữa rủi ro thao túng số liệu kế toán và tránh thuế của các doanh nghiệp niêm yết phi tài chính Việt Nam giai đoạn 2016-2023. Tránh thuế được đo lường bằng thuế suất hiệu dụng kế toán (ACE) và thuế suất hiệu dụng dòng tiền (CFE), trong khi rủi ro thao túng được đo bằng Beneish M-score. Trên dữ liệu bảng, mô hình được ước lượng với hiệu ứng cố định theo ngành và năm, đồng thời vận dụng ước lượng GLS để xử lý phương sai thay đổi. Kết quả cho thấy M-score tương quan nghịch chiều với ACE nhưng đồng biến với CFE, hàm ý mối liên hệ giữa thao túng báo cáo và hành vi thuế phụ thuộc vào lớp đo lường thuế ghi nhận trên BCTC so với thuế thực nộp bằng tiền. Các kiểm định độ bền theo ngưỡng winsorize xác nhận dấu và ý nghĩa thống kê của kết quả là ổn định. Nghiên cứu bổ sung bằng chứng thực nghiệm cho tranh luận bổ trợ-đánh đổi trong bối cảnh thị trường mới nổi, đồng thời gợi mở hàm ý quản trị rủi ro cho cơ quan thuế, nhà đầu tư và kiểm toán viên. <br><br> Abstract <br>
This study examines the relationship between accounting manipulation risk and tax avoidance in Vietnamese non-financial listed companies from 2016 to 2023. Tax avoidance was measured using the accounting effective tax rate (ACE) and the cash flow effective tax rate (CFE), whereas the Beneish M-score assessed manipulation risk. Using panel data, the GLS model was employed to account for heteroskedasticity with industry-year fixed effects. The results showed that the M-score was inversely correlated with ACE but positively correlated with CFE, implying that the relationship between manipulation risk and tax behavior depends on the tax measurement class recorded in financial statements compared to actual cash tax paid. Winsorize strength tests confirmed the sign and statistical significance of the results. The study provides empirical evidence for the trade-off argument in the context of emerging markets, with implications for tax authorities, businesses, investors, and auditors.
2026, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Nghiên cứu này kiểm định mô hình liên kết giữa chuyển đổi số (Digital Transformation - DT), việc sử dụng hệ thống kế toán quản trị (Management Accounting System Use - MAS Use) và hiệu quả bền vững (Sustainable Performance - SP), đồng thời xem xét vai trò điều tiết của lãnh đạo chuyển đổi (Transformational Leadership - TL) trong bối cảnh doanh nghiệp Việt Nam. Khảo sát trực tuyến 326 bảng hợp lệ được phân tích bằng PLS-SEM cho thấy DT tác động tích cực đến MAS Use và SP. Nghiên cứu lấp đầy khoảng trống lý thuyết bằng cách giải thích cơ chế chuyển hóa từ hạ tầng số sang giá trị bền vững thông qua MAS Use, đóng vai trò trung gian một phần đáng kể. Kết quả đồng thời khẳng định TL làm tăng cường tác động của MAS Use đến SP. Bằng cách tích hợp lý thuyết dựa trên nguồn lực (RBV) và mô hình thành công hệ thống thông tin (IS Success Model), nghiên cứu gợi ý doanh nghiệp nên ưu tiên chuẩn hóa dữ liệu thời gian thực và phát triển năng lực lãnh đạo số gắn liền với tư duy Triple Bottom Line để tối ưu hóa lợi ích ròng bền vững. <br><br> Abstract <br>
This study examines the structural relationships between digital transformation (DT), management accounting system use (MAS Use), and sustainable performance (SP), while evaluating the moderating influence of transformational leadership (TL) within the context of Vietnamese enterprises. Utilizing a partial least squares structural equation modeling (PLS-SEM) analysis of 326 valid survey responses, the findings reveal that DT exerts a significant positive impact on both MAS Use and SP. This research addresses a critical theoretical gap by elucidating the transmission mechanism through which digital infrastructure is converted into sustainable value via MAS Use, which serves as a substantial partial mediator. Furthermore, the results confirm that TL significantly strengthens the positive effect of MAS Use on SP. By integrating the resource-based view (RBV) and the information systems success (IS Success) model, the study suggests that firms should prioritize real-time data standardization and cultivate digital leadership capabilities aligned with a Triple Bottom Line orientation to optimize sustainable net benefits.
2026, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng của hệ thống kế toán quản trị và kiểm soát đến đổi mới sáng tạo mở hướng nội và kết quả hoạt động kinh doanh, đồng thời kiểm định vai trò trung gian của đổi mới sáng tạo mở hướng nội. Kết quả phân tích dữ liệu từ 262 doanh nghiệp vừa và lớn tại Việt Nam từ phần mềm SmartPLS4 cho thấy việc sử dụng hệ thống kế toán quản trị và kiểm soát chẩn đoán và tương tác đều có ảnh hưởng tích cực đến đổi mới sáng tạo mở hướng nội. Ngoài ra, nó còn ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh thông qua đổi mới sáng tạo mở hướng nội. Nghiên cứu đóng góp thêm vào tài liệu học thuật về việc sử dụng hệ thống kế toán quản trị kết hợp khung đòn bẩy kiểm soát của Simons (1995) trong bối cảnh đổi mới sáng tạo mở. Bên cạnh đó, bài báo cung cấp hàm ý quản trị quan trọng cho các nhà quản lý trong việc sử dụng hệ thống kế toán quản trị và kiểm soát, tích cực tiếp thu các kiến thức và công nghệ từ bên ngoài nhằm nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. <br><br>Abstract <br>
This study examines the impact of management accounting and control systems on inbound open innovation and firm performance, while also testing the mediating role of inbound open innovation. Analysis of data from 262 medium and large enterprises in Vietnam using SmartPLS4 software shows that the use of both diagnostic and interactive management accounting and control systems positively influences inbound open innovation. Furthermore, it also affects firm performance through inbound open innovation. This study contributes to the academic literature on the use of management accounting system combined with levers of control framework of Simons (1995) in the context of open innovation. In addition, the article provides important managerial implications for managers in using management accounting and control systems, actively acquiring external knowledge and technology to improve firm performance.
2025, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Mục tiêu của bài viết nhằm phân tích sự ảnh hưởng của các yếu tố đến ý định tiếp tục sử dụng trí tuệ nhân tạo tạo sinh (Generative artificial intelligence - GnAI) và hiệu quả kinh doanh của nhà bán lẻ. Mô hình nghiên cứu được mở rộng dựa trên lý thuyết Động lực – Cơ hội – Khả năng (DCK). Nghiên cứu áp dụng phương pháp định lượng, sử dụng bảng hỏi khảo sát để thu thập dữ liệu từ 325 đáp viên đại diện cho các nhà bán lẻ tại Hà Nội thông qua phương pháp lấy mẫu thuận tiện. Dữ liệu được phân tích bằng phương pháp mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM). Kết quả chỉ ra các yếu tố thuộc lý thuyết DCK, bao gồm cơ hội và khả năng sử dụng GnAI, và các động lực (vị lợi và thụ hưởng) ảnh hưởng đến ý định tiếp tục sử dụng GnAI. Đồng thời, ý định tiếp tục sử dụng này sẽ thúc đẩy hiệu quả kinh doanh của nhà bán lẻ. Trên cơ sở đó, nghiên cứu rút ra các hàm ý học thuật và thực tiễn nhằm nâng cao nhận thức, động lực, năng lực và thúc đẩy việc sử dụng GnAI bền vững trong hoạt động bán lẻ. <br><br>Abstract <br>
The study’s purpose is to analyze the impacts of factors on retailers’ continuance intention toward generative artificial intelligence (GnAI). A research model was extended based on the Motivation – Opportunity – Ability (MOA) theory. A quantitative research method was employed, using a questionnaire to accumulate data from 325 retailers in Hanoi through a convenience sampling approach. The data were analyzed using structural equation modeling (SEM). The investigations reveal that MOA-related antecedents, including opportunity, ability to use GnAI, and motivations (i.e., hedonic and utilitarian), foster retailers’ continuance intention toward GnAI. Furthermore, the continuance intention boosts GnAI’s business performance. Based on these findings, this work draws several crucial academic and practical implications for strengthening retailers’ perceptions, motivations, abilities, and the sustained utilization of GnAI in retail.
2025, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Bài viết đo lường mức độ công bố thông tin về công cụ tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam và khám phá ảnh hưởng của quản trị công ty đến mức độ công bố này. Bằng phương pháp phân tích nội dung toàn diện, danh mục 115 mục tin về công cụ tài chính được xây dựng dựa trên chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế số 7 và phù hợp với các quy định của Việt Nam. Các kiểm định F, Breusch- pagan và Hausman giúp lựa chọn mô hình hồi quy phù hợp với dữ liệu thu thập từ 299 báo cáo tài chính của 23 ngân hàng, giai đoạn 2010-2022. Kết quả chỉ ra mức độ công bố thông tin về công cụ tài chính của ngân hàng trung bình đạt 48% và khá khác nhau giữa các ngân hàng. Mô hình GLS là lựa chọn thích hợp để ước lượng kết quả. Kết quả cho thấy sự ảnh hưởng của sở hữu nước ngoài, vai trò kép và quy mô ủy ban kiểm toán đến thực hành công bố về công cụ tài chính của các ngân hàng, nhưng chưa tìm thấy bằng chứng của quy mô hội đồng và thành viên độc lập. Bài viết đóng góp cho lý thuyết báo cáo tài chínhvề mối quan hệ giữa quản trị công ty và công bố thông tin công cụ tài chính, bổ sung bằng chứng giải thích sự lựa chọn chính sách kế toán bởi lý thuyết ủy nhiệm và tín hiệu. Hàm ý thực tiễn của nghiên cứu là Việt Nam cần thiết ban hành chuẩn mực kế toán về công cụ tài chính và các ngân hàng cần giám sát tốt hơn việc công bố thông tin về đối tượng kế toán quan trọng này. <br> Abstract <br><br>
This study aims to measure the financial instrument disclosure level in Viet Nam banks and to investigate its relationship with corporate governance. The FID Index of 115 items was formed based on IFRS 7, Viet Nam financial instrument disclosure requirements and content analysis method. We use a sample of 299 bank-year observations for banks over the period 2010–2022. This paper performs the F-test, Breusch- pagan and Hausman test to identify the appropriate regression model. The findings indicate that the level of financial instrument disclosure provided by the sample banks is relatively low with only 48% of related items being supplied. This article uses regression analyses with the GLS model to examine the impact of corporate governance characteristics on banks’ financial instrument disclosure level. The findings shown that this level has a statistical association with foreign ownership, role duality, audit committee size. However, the study fails to document its significant associations with board size, board independence. This article contributes to literature of relationship between corporate governance and financial instrument disclosure, adds evidence about the application of agency theory and signaling theory in accounting policy choice. Research results show that Vietnam should soon issue accounting standards for financial instruments. Banks should better monitor the disclosure of financial instrument information