Cơ cấu hội đồng quản trị, kỷ luật thị trường có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo thường niên? Bằng chứng từ các ngân hàng thương mại Việt Nam
Nguyen Cong Phuong & Nguyen Thi Ha My
DOI:
Email:
Đơn vị công tác:
Ngày nhận bài: 26/10/2018
Ngày nhận bài sửa:
26/10/2018
Ngày duyệt đăng: 28/04/2020
Lượt xem: 44
Downloads: 0
Các định dạng trích dẫn
Tóm tắt
Nghiên cứu này nhằm kiểm chứng ảnh hưởng của cơ cấu hội đồng quản trị và kỷ luật thị trường đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo thường niên của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Dựa vào cách tiếp cận chứng thực, phương pháp nghiên cứu định lượng, nghiên cứu kết hợp đo lường mức độ công bố thông tin và mô hình hồi quy để đánh giá ảnh hưởng của cơ cấu hội đồng quản trị và kỷ luật thị trường đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo thường niên của 33 ngân hàng trong giai đoạn từ năm 2012 đến 2014. Kết quả phân tích cho thấy mức độ công bố thông tin trong báo cáo thường niên của các ngân hàng không cao; các yếu tố cơ cấu hội đồng quản trị và kỷ luật thị trường không có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo thường niên của các ngân hàng. Kết quả này ngụ ý một số vấn đề lưu ý khi sử dụng các biến này để đo lường trong các nghiên cứu có liên quan trong tương lai.
Từ khóa
Công bố thông tin; Báo cáo thường niên; Chỉ số công bố thông tin; Hội đồng quản trị; Kỷ luật thị trường.
2026, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Nghiên cứu này phân tích cơ chế đứng sau xu hướng gia tăng bền vững của tài sản tài chính (TSTC) trong các doanh nghiệp phi tài chính (NFCs) tại Việt Nam, với mục tiêu kiểm định liệu hiện tượng này phản ánh hiệu ứng lấn át đối với đầu tư vào tài sản cố định (TSCĐ) hay là kết quả của sự điều chỉnh động trong hành vi phân bổ vốn do nhu cầu linh hoạt tài chính (LHTC). Sử dụng dữ liệu bảng của 1.156 NFCs giai đoạn 2013–2023 và phương pháp chiếu cục bộ (local projections - LP) kết hợp biến công cụ Lewbel (2012), nghiên cứu cho thấy sự gia tăng TSTC không dẫn đến sự suy giảm bền vững của đầu tư TSCĐ. Thay vào đó, cú sốc LHTC làm gia tăng đầu tư tài chính trong ngắn hạn và làm chậm đầu tư TSCĐ, nhưng hiệu ứng này đảo chiều trong trung hạn khi NFCs tái phân bổ vốn sang đầu tư thực. Phân tích sâu hơn cho thấy ĐTTC làm tăng đòn bẩy nhưng không làm tăng lượng tiền mặt, ngụ ý sự tồn tại cơ chế “tái phân bổ và tái cấp vốn” giải thích cho sự tích lũy bền vững TSTC: TSTC mở rộng khả năng vay nợ, nợ tài trợ cho đầu tư TSCĐ và dòng tiền tạo ra lại được dùng để giảm đòn bẩy và tái tạo LHTC. <br><br> Abstract <br> This study investigates the mechanisms underlying the sustained increase in financial assets held by non-financial corporations (NFCs) in Vietnam, with the aim of examining whether this trend reflects a crowding-out effect on fixed asset investment or instead results from dynamic adjustments in capital allocation driven by financial flexibility needs. Using panel data on 1,156 NFCs over the period 2013–2023 and employing the local projections (LP) method combined with heteroskedasticity-based instrumental variables from Lewbel (2012), the study finds that the accumulation of financial assets does not lead to a persistent decline in investment in fixed assets. Rather, shocks to financial flexibility increase financial investment in the short run and temporarily slow down fixed asset investment, but this effect reverses in the medium run as firms reallocate capital toward real investment. Further analysis shows that financial investment is associated with higher leverage rather than increased cash holdings, indicating the presence of a “reallocation–refinancing” mechanism that explains the sustained accumulation of financial assets. Under this mechanism, financial assets enhance firms’ borrowing capacity, debt financing supports fixed asset investment, and the resulting cash flows are subsequently used to deleverage and restore financial flexibility.
2026, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Nghiên cứu này khám phá phản ứng của VN-Index trước các tin tức kinh tế vĩ mô bằng cách áp dụng xử lý ngôn ngữ tự nhiên và máy học tiên tiến. Nhóm tác giả phân tích 18.253 bài báo kinh tế từ trang cafef.vn, thu thập từ ngày 01/09/2021 đến 31/08/2024, để đánh giá mức độ tác động của 12 yếu tố kinh tế quan trọng và cảm xúc tổng thể. Sử dụng Mô hình ngôn ngữ lớn như GPT-4o-mini (dùng để đánh giá mức độ tác động chính) và Gemini-1.5-flash (đối chiếu với độ tương đồng 70%), mức độ tác động được định lượng và tích hợp với dữ liệu lịch sử VN-Index để xây dựng mô hình XGBoost. Mô hình dự đoán giá đóng cửa VN-Index với R² đạt 0,9879, thể hiện khả năng dự báo vượt trội. Các công cụ trí tuệ nhân tạo giải thích như SHAP và LIME được sử dụng để phân tích, cho thấy “Báo cáo thu nhập và cổ tức”, “Chính sách đầu tư nước ngoài” và “Ổn định chính trị” là yếu tố chính tác động đến biến động VN-Index. Nghiên cứu xác nhận ảnh hưởng mạnh mẽ của tin tức kinh tế lên thị trường, bổ sung lý thuyết nhà đầu tư bất hợp lý bằng cách chứng minh phản ứng nhà đầu tư thay đổi theo loại tin tức, đồng thời nâng cao hiểu biết về động lực thị trường tại các nước mới nổi như Việt Nam và cung cấp khung AI minh bạch hỗ trợ nhà đầu tư ra quyết định.
<br><br>Abstract<br>
This study examines the VN-Index's response to macroeconomic news through advanced natural language processing (NLP) and machine learning techniques. The authors analyzed 18,253 economic news articles from Cafef.vn, collected from September 1, 2021, to August 31, 2024, to evaluate the impact of 12 key economic factors and overall sentiment. Utilizing Large Language Models (LLMs) such as GPT-4o-mini (for primary sentiment scoring) and Gemini-1.5-flash (for validation with 70% correlation), the authors quantified sentiment and integrated it with VN-Index historical data to build an XGBoost model. The model predicts VN-Index closing prices with an R² of 0.9879, demonstrating superior forecasting accuracy. Explainable AI (XAI) tools like SHAP and LIME were applied to interpret results, identifying “Earnings Reports and Dividends”, “Foreign Investment Policies”, and “Political Stability” as the main drivers of VN-Index volatility. This research confirms the strong impact of macroeconomic news on stock market dynamics, enriches the “noise trader behavior” theory by illustrating category-specific investor reactions, and provides actionable insights for market dynamics in emerging economies like Vietnam, offering investors a transparent AI framework for decision-making.
2026, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Nghiên cứu này xem xét tác động bất đối xứng của chất lượng thể chế đối với tạo thanh khoản của các ngân hàng tại các quốc gia mới nổi khu vực châu Á. Sử dụng mô hình hồi quy phân vị bảng với dữ liệu bảng không cân bằng tại 15 quốc gia trong giai đoạn 2010–2023, kết quả cho thấy mối quan hệ giữa chất lượng thể chế và tạo thanh khoản mang tính bất đối xứng. Cụ thể, chất lượng thể chế có tác động tiêu cực đến tạo thanh khoản ngân hàng tại các phân vị thấp nhưng chuyển sang tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê tại các phân vị cao hơn. Để kiểm tra tính vững của kết quả, nghiên cứu sử dụng các thước đo thay thế cho cả chất lượng thể chế và tạo thanh khoản. Sự nhất quán về kết quả nghiên cứu khẳng định độ tin cậy của kết luận. Phân tích chênh lệch giữa các phân vị cũng làm rõ hơn tính phi tuyến trong mối quan hệ giữa chất lượng thể chế và tạo thanh khoản. Kết quả nghiên cứu hàm ý khi xây dựng và thực hiện chính sách cải cách thể chế, các nhà hoạch định tại các quốc gia mới nổi cần xem xét kỹ đặc điểm và khả năng thích ứng của từng nhóm ngân hàng, nhất là trong bối cảnh hệ thống tài chính chưa phát triển đồng đều.
<br><br>Abstract<br>
This study examines the asymmetric impact of institutional quality on banks' liquidity creation in emerging Asian countries. Using a panel quantile regression model with unbalanced data for 15 countries over the period 2010–2023, the results indicate that the relationship between institutional quality and liquidity creation is asymmetric. Specifically, institutional quality has a negative impact at lower quantiles but turns positive and statistically significant at higher quantiles. To test the robustness of the results, the study uses alternative measures of both institutional quality and liquidity creation. The consistency of the results confirms the reliability of the conclusions. The analysis of differences between quantiles further clarifies the nonlinearity in the relationship between institutional quality and liquidity creation. The research results imply that when developing and implementing institutional reform policies, policymakers in emerging countries need to carefully consider the characteristics and adaptability of each banking group, especially in the context of an unevenly developed financial system.
2025, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Nghiên cứu này phân tích tác động của bất ổn toàn cầu đến rủi ro sụp đổ giá cổ phiếu của 565 ngân hàng niêm yết thuộc khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (APAC) trong giai đoạn 1995–2023. Nghiên cứu cho thấy bất ổn toàn cầu làm gia tăng nguy cơ sụp đổ giá cổ phiếu ngành ngân hàng, đặc biệt rõ rệt ở các ngân hàng có mức độ bất đồng kỳ vọng giữa các nhà đầu tư cao, có định giá thị trường thấp, hoặc hoạt động tại các quốc gia có cơ chế bảo vệ nhà đầu tư yếu kém. Hàm ý chính sách từ nghiên cứu đề xuất các chính phủ trong khu vực APAC tăng cường giám sát rủi ro hệ thống và hoàn thiện khung bảo vệ nhà đầu tư, đồng thời thúc đẩy phối hợp chính sách ở cấp độ khu vực nhằm ổn định thị trường và nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các cú sốc bất ổn toàn cầu. <br><br> Abstract <br>
This study investigates the impact of global uncertainty on the stock price crash risk (SPCR) of 565 listed banks across the Asia–Pacific (APAC) region during the period 1995–2023. We find that SPCR in the banking sector tends to increase during periods of high WUI. The positive effect of global uncertainty on SPCR is significantly stronger for banks with higher levels of investor expectation divergence, lower market value, or those operating in countries with relatively weaker investor protections. These findings have important implications for governments across the APAC region in strengthening risk oversight systems and investor protection frameworks, as well as enhancing regional policy coordination to stabilize financial markets and bolster the banking system’s resilience to uncertainty shocks.
2025, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Sự ổn định của hệ thống ngân hàng bị đe dọa bởi hậu quả của đại dịch COVID-19 khi nợ xấu tăng, doanh thu giảm và các rủi ro phá sản tiềm ẩn của doanh nghiệp. Các ngân hàng thương mại Việt Nam đang chịu ảnh hưởng của dịch bệnh khi nguồn vốn huy động tồn dư và nhu cầu vay vốn giảm dần. Bài viết này nhằm mục đích đo lường hiệu quả của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong hai giai đoạn, trước và trong đại dịch COVID-19 bằng phương pháp phân tích bao dữ liệu. Ngoài ra, các yếu tố ảnh hưởng đến sự hiệu quả của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn này được phân tích bằng mô hình hồi quy Tobit. Bài nghiên cứu chỉ ra rằng, hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả kỹ thuật thuần và hiệu quả quy mô của 31 ngân hàng thương mại Việt Nam giảm mạnh trong giai đoạn dịch bệnh. Hơn thế nữa, bài viết đã tìm ra mối liên hệ giữa hiệu quả của hệ thống ngân hàng và số ngày giãn cách xã hội tại Việt Nam.