Ảnh hưởng của quản trị công ty đến hiệu quả tài chính với vai trò trung gian của mức độ công bố thông tin về công cụ tài chính tại ngân hàng thương mại.
The influence of corporate governance on commercial bank financial performance with the mediating role of disclosure of financial instruments.
Bài viết xem xét tác động của quản trị công ty (QTCT) đến hiệu quả tài chính (HQTC) ngân hàng với vai trò trung gian của công bố thông tin về công cụ tài chính (Financial instrument disclosure- FID). Nghiên cứu sử dụng mẫu 21 ngân hàng tại Việt Nam và phân tích hồi quy bội với dữ liệu bảng trong 14 năm, 2010-2023. Kiểm định Sobel-Goodman và Bootstrap được sử dụng để đánh giá vai trò trung gian của FID. Kết quả cho thấy mức độ phù hợp yêu cầu chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế số 7 (International financial reporting standard- IFRS 7) đạt khoảng 36,8%. Nghiên cứu cung cấp bằng chứng về vai trò trung gian FID trong mối quan hệ giữa thành viên điều hành, sở hữu nước ngoài với HQTC. Ngoài ra, trình độ học vấn, tham gia điều hành và sở hữu nước ngoài đóng góp làm tăng HQTC ngân hàng được giải thích bởi lý thuyết ủy nhiệm và lý thuyết phụ thuộc nguồn lực. Hàm ý nghiên cứu cho thấy Việt Nam cần nhanh chóng xây dụng chuẩn mực kế toán về FID, các ngân hàng cần có các chính sách kế toán thích hợp về FID nằm góp phần nâng cao HQTC hơn nữa.
Abstract:
The paper examines the impact of corporate governance on financial performance of banks with the mediating role of financial instrument disclosure (FID). The study uses a sample of 21 banks in Vietnam and multiple regression analysis with panel data for 14 years, 2010-2023. Sobel-Goodman and Bootstrap tests are used to assess the mediating role of FID. The results show that the level of conformity with the requirements of International Financial Reporting Standard (IFRS 7) is about 36.8%. The study provides evidence of the mediating role of FID in the relationship between executive members, foreign ownership and financial performance. In addition, the level of education, executive participation and foreign ownership contribute to increasing the financial performace of banks, which is explained by the agency theory and the resource dependence theory. The research implication shows that Vietnam should quickly build accounting standards on FID, banks need to have appropriate accounting policies on FID to further contribute to improving financial performance.
Từ khóa
Công cụ tài chính; IFRS7; quản trị công ty; ngân hàng; hiệu quả tài chính Financial instrument, IFRS 7, corporate governance, bank, financial performance
2025, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Bài viết đo lường mức độ công bố thông tin về công cụ tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam và khám phá ảnh hưởng của quản trị công ty đến mức độ công bố này. Bằng phương pháp phân tích nội dung toàn diện, danh mục 115 mục tin về công cụ tài chính được xây dựng dựa trên chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế số 7 và phù hợp với các quy định của Việt Nam. Các kiểm định F, Breusch- pagan và Hausman giúp lựa chọn mô hình hồi quy phù hợp với dữ liệu thu thập từ 299 báo cáo tài chính của 23 ngân hàng, giai đoạn 2010-2022. Kết quả chỉ ra mức độ công bố thông tin về công cụ tài chính của ngân hàng trung bình đạt 48% và khá khác nhau giữa các ngân hàng. Mô hình GLS là lựa chọn thích hợp để ước lượng kết quả. Kết quả cho thấy sự ảnh hưởng của sở hữu nước ngoài, vai trò kép và quy mô ủy ban kiểm toán đến thực hành công bố về công cụ tài chính của các ngân hàng, nhưng chưa tìm thấy bằng chứng của quy mô hội đồng và thành viên độc lập. Bài viết đóng góp cho lý thuyết báo cáo tài chínhvề mối quan hệ giữa quản trị công ty và công bố thông tin công cụ tài chính, bổ sung bằng chứng giải thích sự lựa chọn chính sách kế toán bởi lý thuyết ủy nhiệm và tín hiệu. Hàm ý thực tiễn của nghiên cứu là Việt Nam cần thiết ban hành chuẩn mực kế toán về công cụ tài chính và các ngân hàng cần giám sát tốt hơn việc công bố thông tin về đối tượng kế toán quan trọng này. <br> Abstract <br><br>
This study aims to measure the financial instrument disclosure level in Viet Nam banks and to investigate its relationship with corporate governance. The FID Index of 115 items was formed based on IFRS 7, Viet Nam financial instrument disclosure requirements and content analysis method. We use a sample of 299 bank-year observations for banks over the period 2010–2022. This paper performs the F-test, Breusch- pagan and Hausman test to identify the appropriate regression model. The findings indicate that the level of financial instrument disclosure provided by the sample banks is relatively low with only 48% of related items being supplied. This article uses regression analyses with the GLS model to examine the impact of corporate governance characteristics on banks’ financial instrument disclosure level. The findings shown that this level has a statistical association with foreign ownership, role duality, audit committee size. However, the study fails to document its significant associations with board size, board independence. This article contributes to literature of relationship between corporate governance and financial instrument disclosure, adds evidence about the application of agency theory and signaling theory in accounting policy choice. Research results show that Vietnam should soon issue accounting standards for financial instruments. Banks should better monitor the disclosure of financial instrument information
2021, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Trong bối cảnh các phần mềm ứng dụng cho hệ thống thông tin kế toán như phần mềm kế toán và hệ thống ERP được triển khai phổ biến, các doanh nghiệp phát sinh nhu cầu đánh giá những yếu tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận sử dụng phần mềm trong hệ thống thông tin kế toán, và tác động của chúng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Nghiên cứu này tích hợp khuôn mẫu công nghệ - tổ chức - môi trường (TOE) và quan điểm nguồn lực (RBV) để phát triển mô hình đường dẫn về sự chấp nhận sử dụng phần mềm kế toán và hệ thống ERP. Kết quả phân tích PLS từ 203 doanh nghiệp xác nhận rằng việc chấp nhận sử dụng phần mềm có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Bốn yếu tố, gồm: (1) Thái độ hướng đến việc sử dụng, (2) khả năng quan sát, (3) văn hóa tổ chức, và (4) cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông giải thích 51,7% biến thiên của ý định hành vi sử dụng phần mềm. Các khám phá này đã cung cấp những hàm ý quản trị hướng dẫn các nhà nghiên cứu và thực hành hệ thống thông tin kế toán cải thiện sự chấp nhận sử dụng phần mềm kế toán/ hệ thống ERP.
2026, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Nghiên cứu này phân tích mối quan hệ giữa kế hoạch thuế và lựa chọn chính sách kế toán, cung cấp bằng chứng thực nghiệm từ các doanh nghiệp (DN) phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) giai đoạn 2020-2024. Kết quả phân tích hồi quy từ 1.267 quan sát của tất cả DN khẳng định rằng, kế hoạch thuế có tác động mạnh mẽ và có ý nghĩa thống kê đến việc lựa chọn chính sách kế toán. Đặc biệt, nghiên cứu phát hiện mối quan hệ này không mang tính cố định mà chịu sự tác động điều tiết đáng kể từ tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài. Tỷ lệ sở hữu nước ngoài đóng vai trò kiềm chế mối quan hệ tích cực giữa kế hoạch thuế và lựa chọn chính sách kế toán. Điều này có thể do áp lực minh bạch hóa, tuân thủ chuẩn mực quốc tế từ các cổ đông nước ngoài. Bên cạnh đó, các yếu tố đặc trưng của DN như quy mô, đòn bẩy tài chính cũng được ghi nhận có ảnh hưởng rõ rệt đến lựa chọn chính sách kế toán. <br><br>Abstract <br>
This study analyzes the relationship between tax planning and accounting policy choices, providing empirical evidence from non-financial enterprises listed on the Ho Chi Minh City Stock Exchange (HOSE) from 2020 to 2024. The regression analysis results from 1,267 firm-year observations confirm that tax planning has a strong and statistically significant impact on accounting policy choices. Notably, the study finds that this relationship is not fixed but is significantly moderated by the level of foreign ownership. Foreign ownership plays a restraining role on the positive relationship between tax planning and accounting policy choices. This may be due to transparency pressures and the need for compliance with international standards from foreign shareholders. Furthermore, firm-specific characteristics such as size and financial leverage are also found to have a clear influence on accounting policy choices.
2026, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Trong khi phần lớn các nghiên cứu tập trung phân tích tác động của chuyển đổi số đến chức năng kế toán, vai trò tác nhân của kế toán trong định hình tiến trình chuyển đổi số ở cấp tổ chức vẫn chưa được làm rõ. Phương pháp nghiên cứu định tính được triển khai với 9 cuộc phỏng vấn sâu các giám đốc sản xuất, giám đốc tài chính, giám đốc bộ phận công nghệ thông tin, kế toán trưởng, nhân viên kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất. Áp dụng phân tích chủ đề sáu giai đoạn của Braun và Clarke (2006), quản lý và mã hóa dữ liệu bằng phần mềm Taguette. Kết quả cho thấy bốn chủ đề chính nổi lên từ phân tích gồm (i) Động lực thúc đẩy chuyển đổi số; (ii) Định hình văn hóa số và quản trị thay đổi; (iii) Dữ liệu kế toán là nền tảng cho chuyển đổi số; (iv) Năng lực và tư duy kế toán. Tuy nhiên, vai trò của kế toán trong chuyển đổi số mang tính điều kiện, phụ thuộc vào cấu trúc ra quyết định, mức độ tích hợp hệ thống và định hướng chiến lược của doanh nghiệp. Phát hiện này không những cung cấp thêm tri thức mới về cách thức, vai trò mà kế toán góp phần thúc đẩy chuyển đổi số, mà còn gợi mở hành động cho các nhà hoạch định chính sách và quản trị doanh nghiệp. <br><br>Abstract <br>
While most existing studies focus on examining the impact of digital transformation on accounting functions, the agentic role of accountants in shaping digital transformation at the organizational level remains underexplored. This study adopts a qualitative research approach based on nine in-depth interviews with production managers, chief financial officers, chief information officers, chief accountants, and accounting staff from manufacturing firms. Data were analyzed using Braun and Clarke’s (2006) six-phase thematic analysis, with data management and coding supported by Taguette software. The findings reveal four main themes: (i) drivers of digital transformation; (ii) shaping digital culture and managing change; (iii) accounting data as a foundation for digital transformation; and (iv) accounting competencies and mindset. However, the role of accountants in digital transformation is found to be conditional, depending on organizational decision-making structures, the level of system integration, and the firm’s strategic orientation. These findings provide new insights into how and through what mechanisms accountants contribute to digital transformation, while also offering implications for policymakers and business managers.
2026, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Nghiên cứu này xem xét tác động bất đối xứng của chất lượng thể chế đối với tạo thanh khoản của các ngân hàng tại các quốc gia mới nổi khu vực châu Á. Sử dụng mô hình hồi quy phân vị bảng với dữ liệu bảng không cân bằng tại 15 quốc gia trong giai đoạn 2010–2023, kết quả cho thấy mối quan hệ giữa chất lượng thể chế và tạo thanh khoản mang tính bất đối xứng. Cụ thể, chất lượng thể chế có tác động tiêu cực đến tạo thanh khoản ngân hàng tại các phân vị thấp nhưng chuyển sang tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê tại các phân vị cao hơn. Để kiểm tra tính vững của kết quả, nghiên cứu sử dụng các thước đo thay thế cho cả chất lượng thể chế và tạo thanh khoản. Sự nhất quán về kết quả nghiên cứu khẳng định độ tin cậy của kết luận. Phân tích chênh lệch giữa các phân vị cũng làm rõ hơn tính phi tuyến trong mối quan hệ giữa chất lượng thể chế và tạo thanh khoản. Kết quả nghiên cứu hàm ý khi xây dựng và thực hiện chính sách cải cách thể chế, các nhà hoạch định tại các quốc gia mới nổi cần xem xét kỹ đặc điểm và khả năng thích ứng của từng nhóm ngân hàng, nhất là trong bối cảnh hệ thống tài chính chưa phát triển đồng đều.
<br><br>Abstract<br>
This study examines the asymmetric impact of institutional quality on banks' liquidity creation in emerging Asian countries. Using a panel quantile regression model with unbalanced data for 15 countries over the period 2010–2023, the results indicate that the relationship between institutional quality and liquidity creation is asymmetric. Specifically, institutional quality has a negative impact at lower quantiles but turns positive and statistically significant at higher quantiles. To test the robustness of the results, the study uses alternative measures of both institutional quality and liquidity creation. The consistency of the results confirms the reliability of the conclusions. The analysis of differences between quantiles further clarifies the nonlinearity in the relationship between institutional quality and liquidity creation. The research results imply that when developing and implementing institutional reform policies, policymakers in emerging countries need to carefully consider the characteristics and adaptability of each banking group, especially in the context of an unevenly developed financial system.