2019, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Theo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013 của Chính phủ, tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng khoảng 5,5%; kim ngạch xuất khẩu tăng khoảng 10%; tỉ lệ nhập siêu khoảng 8%; bội chi ngân sách nhà nước (NSNN) không quá 4,8% GDP; tốc độ tăng giá tiêu dùng (CPI) khoảng 8%; tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội bằng khoảng 30% GDP; tỉ lệ hộ nghèo giảm 2%, riêng các huyện nghèo giảm 4%… Chính phủ cũng đã xác định cần phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa (CSTK) và chính sách tiền tệ (CSTT) trong việc huy động, sử dụng các nguồn lực cho phát triển kinh tế, đồng thời bảo đảm kiềm chế lạm phát, tăng tính ổn định kinh tế vĩ mô; tiếp tục tháo gỡ khó khăn và tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận vốn vay, hạ lãi suất tín dụng phù hợp với mức giảm lạm phát; khuyến khích các ngân hàng thương mại (NHTM) cho vay lãi suất thấp đối với các lĩnh vực nông nghiệp, sản xuất hàng xuất khẩu...; Bài viết này dựa trên khuôn khổ lý thuyết về mối quan hệ giữa CSTT và CSTK để chỉ ra những điểm cần phối hợp trong quá trình điều hành CSTT và CSTK của VN hiện nay nhằm góp phần thực hiện tốt Nghị quyết về phát triển kinh tế-xã hội năm 2013 của Chính phủ.
2026, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu, chính sách tiền tệ (CSTT) ngày càng trở nên khó đoán định bởi những biến động không ngừng của nền kinh tế vĩ mô. Nghiên cứu này đi vào phân tích tác động của bất định CSTT đến chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp Việt Nam. Sử dụng phương pháp hồi quy với hiệu ứng cố định trên dữ liệu doanh nghiệp phi tài chính niêm yết, kết quả cho thấy bất định CSTT làm gia tăng đáng kể chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp, và tác động này được thể hiện lên cả chi phí nợ vay và chi phí vốn chủ sở hữu. Kết quả nghiên cứu này không thay đổi sau khi kiểm định tính vững bằng nhiều phương pháp khác nhau. Bên cạnh đó, chất lượng thể chế địa phương, cụ thể là tính minh bạch, chi phí thời gian, và chi phí không chính thức, đóng vai trò điều tiết tác động tiêu cực này. Các kết quả này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cân nhắc hệ quả của CSTT tới chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp cũng như sự cần thiết của việc cải thiện tính minh bạch và thủ tục hành chính của môi trường kinh doanh nhằm tạo điều kiện ổn định cho doanh nghiệp phát triển.
<br><br>Abstract<br>
As Vietnam continues to deepen its integration into the global economy, monetary policy has become increasingly difficult to predict amid ongoing macroeconomic volatility. This study examines the impact of monetary policy uncertainty on the cost of capital of Vietnamese firms. Using fixed-effects regressions on a panel of listed non-financial companies, the results show that monetary policy uncertainty significantly increases firms’ cost of capital, reflected in both the cost of debt and equity. These findings remain robust across various alternative robustness checks. Moreover, local institutional quality, particularly transparency, time cost, and informal charges, plays a moderating role in this adverse effect. These results highlight the importance of considering the cost of capital implications of monetary policy and the necessity of improving the business environment to create stable conditions for firms to grow.
2026, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Nghiên cứu xem xét tác động phi tuyến của sở hữu nước ngoài đến mức nắm giữ tiền của các công ty ngành hàng tiêu dùng niêm yết tại Việt Nam, đồng thời xem xét sự thay đổi của mối quan hệ này trước, trong và sau đại dịch COVID-19. Sử dụng 688 quan sát của 86 công ty giai đoạn 2017–2024, kết quả cho thấy mối quan hệ hình chữ U ngược giữa sở hữu nước ngoài và nắm giữ tiền. Mối quan hệ này duy trì qua ba giai đoạn nhưng điểm cực đại khác nhau: 28,5% trước COVID-19, giảm còn 11,4% trong đại dịch và tăng lên 18,2% sau đại dịch. Sự suy giảm mạnh trong giai đoạn COVID-19 cho thấy doanh nghiệp điều chỉnh chính sách thanh khoản trong bối cảnh bất ổn. Kết quả nhấn mạnh vai trò của sở hữu nước ngoài trong quyết định nắm giữ tiền và cung cấp hàm ý quản trị cho doanh nghiệp cũng như cơ quan hoạch định chính sách. <br><br> Abstract <br>
The study examines the nonlinear effect of foreign ownership on cash holdings of listed consumer-goods firms in Vietnam, and investigates how this relationship changes before, during, and after the COVID-19 pandemic. Using a sample of 688 firm-year observations from 86 firms over the period 2017-2024, the results reveal an inverted U-shaped relationship between foreign ownership and cash holdings. Although this relationship persists across all three subperiods, the turning point varies significantly: 28.5% before COVID-19, declining to 11.4% during the pandemic, and rising to 18.2% in the post-pandemic period. The sharp decrease during COVID-19 suggests that firms adjusted their liquidity policies in response to heightened uncertainty. The results highlight the importance of foreign ownership in shaping corporate cash holding decisions and provide implications for both managers and policymakers.
2026, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Nghiên cứu phân tích đặc tính trú ẩn an toàn với một số tài sản tài chính điển hình đối với thị trường cổ phiếu Việt Nam trong giai đoạn 2020–2025, trên 2 giai đoạn chính là đại dịch COVID-19 và giao tranh quốc tế. Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy OLS với gần 1.400 quan sát biến động của 04 nhóm tài sản hàng hóa, trái phiếu chính phủ, ngoại tệ, và tiền mã hóa trong giai đoạn thị trường Việt Nam suy giảm mạnh. Kết quả cho thấy, tại một thị trường cận biên như Việt Nam, vàng không thể hiện đặc tính trú ẩn an toàn. Trái phiếu chỉnh phủ và đồng USD thể hiện rõ ràng đặc tính trú ẩn an toàn với thị trường cổ phiếu Việt Nam. Đa phần các nhóm tài sản còn lại không thể hiện đặc tính trú ẩn an toàn, chỉ có thể đóng vai trò phòng ngừa rủi ro yếu.
<br><br>Abstract <br>
This study investigates the safe haven properties of several typical financial assets against the Vietnamese stock market during the 2020–2025 period, examining two distinct sub-periods: the COVID-19 pandemic and the periods of global geopolitical tensions. Using an OLS regression model with nearly 1,400 observations, the authors analyze fluctuations across four asset classes: Commodities, government bonds, foreign currencies, and cryptocurrencies, during periods of sharp declines in the Vietnamese market. The findings indicate that in a frontier market such as Vietnam, gold does not exhibit safe haven characteristics. Conversely, government bonds and the USD demonstrate strong safe-haven properties against the Vietnamese stock market. Most of the remaining assets fail to provide safe havens, acting only as weak hedges