Nghiên cứu kiểm tra ảnh hưởng của vốn đầu tư nước ngoài tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thông qua vai trò trung gian của quản trị công ty (QTCT) và điều tiết của chiến lược cạnh tranh. Dữ liệu của 128 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh được thu thập thông qua phần mềm Thomson - Reuteurs và các báo cáo liên quan từ năm 2017 đến 2019. Kết quả nghiên cứu tìm thấy vốn đầu tư nước ngoài tác động ngược chiều tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thông qua vai trò trung gian của QTCT và điều tiết của chiến lược cạnh tranh (đo lường qua chiến lược dẫn đầu về chi phí), tuy nhiên khi chiến lược cạnh tranh đo lường qua chiến lược khác biệt hóa về sản phẩm ảnh hưởng cùng chiều tới mối quan hệ giữa vốn đầu tư nước ngoài và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cung cấp bằng chứng và hàm ý các chính sách liên quan nhằm hỗ trợ nhà quản trị và nhà lập pháp đưa ra các quyết định phù hợp giúp tối đa hóa hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Abstract
The study aims to examine foreign ownership on firm performance through the mediating role of corporate governance. In addition, the study determines the moderating role of business strategy on the relationship between foreign ownership and firm performance. The research data of 128 companies listed on the Ho Chi Minh stock market is collected through Thomson - Reuters DataStream and financial reports published over the years from 2017 to 2019. The results proved that foreign ownership has a negative impact on firm performance through the mediating role of corporate governance. Similarly, business strategy (measured by cost leadership strategy) has a negative impact on the relationship between foreign ownership and firm performance, however, business strategy (measured through product differentiation strategy) is the opposite. The results of the study provide empirical evidence and suggest policies for corporate administrators and State management agencies.
Từ khóa
vốn đầu tư nước ngoài, QTCT, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Foreign ownership; Corporate governance; Firm performance.
2026, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Nghiên cứu này phân tích mối quan hệ giữa kế hoạch thuế và lựa chọn chính sách kế toán, cung cấp bằng chứng thực nghiệm từ các doanh nghiệp (DN) phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) giai đoạn 2020-2024. Kết quả phân tích hồi quy từ 1.267 quan sát của tất cả DN khẳng định rằng, kế hoạch thuế có tác động mạnh mẽ và có ý nghĩa thống kê đến việc lựa chọn chính sách kế toán. Đặc biệt, nghiên cứu phát hiện mối quan hệ này không mang tính cố định mà chịu sự tác động điều tiết đáng kể từ tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài. Tỷ lệ sở hữu nước ngoài đóng vai trò kiềm chế mối quan hệ tích cực giữa kế hoạch thuế và lựa chọn chính sách kế toán. Điều này có thể do áp lực minh bạch hóa, tuân thủ chuẩn mực quốc tế từ các cổ đông nước ngoài. Bên cạnh đó, các yếu tố đặc trưng của DN như quy mô, đòn bẩy tài chính cũng được ghi nhận có ảnh hưởng rõ rệt đến lựa chọn chính sách kế toán. <br><br>Abstract <br>
This study analyzes the relationship between tax planning and accounting policy choices, providing empirical evidence from non-financial enterprises listed on the Ho Chi Minh City Stock Exchange (HOSE) from 2020 to 2024. The regression analysis results from 1,267 firm-year observations confirm that tax planning has a strong and statistically significant impact on accounting policy choices. Notably, the study finds that this relationship is not fixed but is significantly moderated by the level of foreign ownership. Foreign ownership plays a restraining role on the positive relationship between tax planning and accounting policy choices. This may be due to transparency pressures and the need for compliance with international standards from foreign shareholders. Furthermore, firm-specific characteristics such as size and financial leverage are also found to have a clear influence on accounting policy choices.
2026, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Trong khi phần lớn các nghiên cứu tập trung phân tích tác động của chuyển đổi số đến chức năng kế toán, vai trò tác nhân của kế toán trong định hình tiến trình chuyển đổi số ở cấp tổ chức vẫn chưa được làm rõ. Phương pháp nghiên cứu định tính được triển khai với 9 cuộc phỏng vấn sâu các giám đốc sản xuất, giám đốc tài chính, giám đốc bộ phận công nghệ thông tin, kế toán trưởng, nhân viên kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất. Áp dụng phân tích chủ đề sáu giai đoạn của Braun và Clarke (2006), quản lý và mã hóa dữ liệu bằng phần mềm Taguette. Kết quả cho thấy bốn chủ đề chính nổi lên từ phân tích gồm (i) Động lực thúc đẩy chuyển đổi số; (ii) Định hình văn hóa số và quản trị thay đổi; (iii) Dữ liệu kế toán là nền tảng cho chuyển đổi số; (iv) Năng lực và tư duy kế toán. Tuy nhiên, vai trò của kế toán trong chuyển đổi số mang tính điều kiện, phụ thuộc vào cấu trúc ra quyết định, mức độ tích hợp hệ thống và định hướng chiến lược của doanh nghiệp. Phát hiện này không những cung cấp thêm tri thức mới về cách thức, vai trò mà kế toán góp phần thúc đẩy chuyển đổi số, mà còn gợi mở hành động cho các nhà hoạch định chính sách và quản trị doanh nghiệp. <br><br>Abstract <br>
While most existing studies focus on examining the impact of digital transformation on accounting functions, the agentic role of accountants in shaping digital transformation at the organizational level remains underexplored. This study adopts a qualitative research approach based on nine in-depth interviews with production managers, chief financial officers, chief information officers, chief accountants, and accounting staff from manufacturing firms. Data were analyzed using Braun and Clarke’s (2006) six-phase thematic analysis, with data management and coding supported by Taguette software. The findings reveal four main themes: (i) drivers of digital transformation; (ii) shaping digital culture and managing change; (iii) accounting data as a foundation for digital transformation; and (iv) accounting competencies and mindset. However, the role of accountants in digital transformation is found to be conditional, depending on organizational decision-making structures, the level of system integration, and the firm’s strategic orientation. These findings provide new insights into how and through what mechanisms accountants contribute to digital transformation, while also offering implications for policymakers and business managers.
2026, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Nghiên cứu kiểm định mối liên hệ giữa rủi ro thao túng số liệu kế toán và tránh thuế của các doanh nghiệp niêm yết phi tài chính Việt Nam giai đoạn 2016-2023. Tránh thuế được đo lường bằng thuế suất hiệu dụng kế toán (ACE) và thuế suất hiệu dụng dòng tiền (CFE), trong khi rủi ro thao túng được đo bằng Beneish M-score. Trên dữ liệu bảng, mô hình được ước lượng với hiệu ứng cố định theo ngành và năm, đồng thời vận dụng ước lượng GLS để xử lý phương sai thay đổi. Kết quả cho thấy M-score tương quan nghịch chiều với ACE nhưng đồng biến với CFE, hàm ý mối liên hệ giữa thao túng báo cáo và hành vi thuế phụ thuộc vào lớp đo lường thuế ghi nhận trên BCTC so với thuế thực nộp bằng tiền. Các kiểm định độ bền theo ngưỡng winsorize xác nhận dấu và ý nghĩa thống kê của kết quả là ổn định. Nghiên cứu bổ sung bằng chứng thực nghiệm cho tranh luận bổ trợ-đánh đổi trong bối cảnh thị trường mới nổi, đồng thời gợi mở hàm ý quản trị rủi ro cho cơ quan thuế, nhà đầu tư và kiểm toán viên. <br><br> Abstract <br>
This study examines the relationship between accounting manipulation risk and tax avoidance in Vietnamese non-financial listed companies from 2016 to 2023. Tax avoidance was measured using the accounting effective tax rate (ACE) and the cash flow effective tax rate (CFE), whereas the Beneish M-score assessed manipulation risk. Using panel data, the GLS model was employed to account for heteroskedasticity with industry-year fixed effects. The results showed that the M-score was inversely correlated with ACE but positively correlated with CFE, implying that the relationship between manipulation risk and tax behavior depends on the tax measurement class recorded in financial statements compared to actual cash tax paid. Winsorize strength tests confirmed the sign and statistical significance of the results. The study provides empirical evidence for the trade-off argument in the context of emerging markets, with implications for tax authorities, businesses, investors, and auditors.
2026, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Nghiên cứu này kiểm định mô hình liên kết giữa chuyển đổi số (Digital Transformation - DT), việc sử dụng hệ thống kế toán quản trị (Management Accounting System Use - MAS Use) và hiệu quả bền vững (Sustainable Performance - SP), đồng thời xem xét vai trò điều tiết của lãnh đạo chuyển đổi (Transformational Leadership - TL) trong bối cảnh doanh nghiệp Việt Nam. Khảo sát trực tuyến 326 bảng hợp lệ được phân tích bằng PLS-SEM cho thấy DT tác động tích cực đến MAS Use và SP. Nghiên cứu lấp đầy khoảng trống lý thuyết bằng cách giải thích cơ chế chuyển hóa từ hạ tầng số sang giá trị bền vững thông qua MAS Use, đóng vai trò trung gian một phần đáng kể. Kết quả đồng thời khẳng định TL làm tăng cường tác động của MAS Use đến SP. Bằng cách tích hợp lý thuyết dựa trên nguồn lực (RBV) và mô hình thành công hệ thống thông tin (IS Success Model), nghiên cứu gợi ý doanh nghiệp nên ưu tiên chuẩn hóa dữ liệu thời gian thực và phát triển năng lực lãnh đạo số gắn liền với tư duy Triple Bottom Line để tối ưu hóa lợi ích ròng bền vững. <br><br> Abstract <br>
This study examines the structural relationships between digital transformation (DT), management accounting system use (MAS Use), and sustainable performance (SP), while evaluating the moderating influence of transformational leadership (TL) within the context of Vietnamese enterprises. Utilizing a partial least squares structural equation modeling (PLS-SEM) analysis of 326 valid survey responses, the findings reveal that DT exerts a significant positive impact on both MAS Use and SP. This research addresses a critical theoretical gap by elucidating the transmission mechanism through which digital infrastructure is converted into sustainable value via MAS Use, which serves as a substantial partial mediator. Furthermore, the results confirm that TL significantly strengthens the positive effect of MAS Use on SP. By integrating the resource-based view (RBV) and the information systems success (IS Success) model, the study suggests that firms should prioritize real-time data standardization and cultivate digital leadership capabilities aligned with a Triple Bottom Line orientation to optimize sustainable net benefits.
2026, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng của hệ thống kế toán quản trị và kiểm soát đến đổi mới sáng tạo mở hướng nội và kết quả hoạt động kinh doanh, đồng thời kiểm định vai trò trung gian của đổi mới sáng tạo mở hướng nội. Kết quả phân tích dữ liệu từ 262 doanh nghiệp vừa và lớn tại Việt Nam từ phần mềm SmartPLS4 cho thấy việc sử dụng hệ thống kế toán quản trị và kiểm soát chẩn đoán và tương tác đều có ảnh hưởng tích cực đến đổi mới sáng tạo mở hướng nội. Ngoài ra, nó còn ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh thông qua đổi mới sáng tạo mở hướng nội. Nghiên cứu đóng góp thêm vào tài liệu học thuật về việc sử dụng hệ thống kế toán quản trị kết hợp khung đòn bẩy kiểm soát của Simons (1995) trong bối cảnh đổi mới sáng tạo mở. Bên cạnh đó, bài báo cung cấp hàm ý quản trị quan trọng cho các nhà quản lý trong việc sử dụng hệ thống kế toán quản trị và kiểm soát, tích cực tiếp thu các kiến thức và công nghệ từ bên ngoài nhằm nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. <br><br>Abstract <br>
This study examines the impact of management accounting and control systems on inbound open innovation and firm performance, while also testing the mediating role of inbound open innovation. Analysis of data from 262 medium and large enterprises in Vietnam using SmartPLS4 software shows that the use of both diagnostic and interactive management accounting and control systems positively influences inbound open innovation. Furthermore, it also affects firm performance through inbound open innovation. This study contributes to the academic literature on the use of management accounting system combined with levers of control framework of Simons (1995) in the context of open innovation. In addition, the article provides important managerial implications for managers in using management accounting and control systems, actively acquiring external knowledge and technology to improve firm performance.