Các nhân tố ảnh hưởng vận dụng chuẩn mực kế toán trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Đà Nẵng
Tran dinh Khoi Nguyen
DOI:
Email: nguyen.tdk@due.edu.com
Đơn vị công tác:
Ngày nhận bài: 06/02/2018
Ngày nhận bài sửa:
06/02/2018
Ngày duyệt đăng: 22/11/2019
Lượt xem: 47
Downloads: 0
Các định dạng trích dẫn
Tóm tắt
Những chuẩn mực kế toán đầu tiên của VN được ban hành vào năm 2001 nhưng cho đến nay còn ít các nghiên cứu đánh giá thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng chuẩn mực kế toán. Bài viết này nhằm nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng chuẩn mực kế toán trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) tại thành phố Đà Nẵng. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ chuẩn mực kế toán được vận dụng ở các DNNVV tại Đà Nẵng còn tương đối thấp. Kết quả phân tích hồi quy cho thấy năng lực kế toán viên là một trong những nhân tố ảnh hưởng đáng kể đến việc vận dụng chuẩn mực kế toán. Việc tăng cường công tác kiểm tra từ phía cơ quan thuế, hay yêu cầu báo cáo tài chính phải được kiểm toán sẽ ảnh hưởng đến việc vận dụng chuẩn mực kế toán trong các DNNVV tại Đà Nẵng.
1. Al-Basteki, Hasan (1995), “The Voluntary Adoption of International Accounting Standards by Bahraini Corporations”, Advances in International Accounting, 47-64\r\n2. Belkaoui, Ahmed & A. Kahl, (1978), Corporate Financial Disclosure in Canada, Research Monograph of the Canadian Certified General Accountants Association, Vancouver.\r\n3. Chow, C.W. & Wong-Boren, (1987), “Voluntary Financial Disclosure by Mexican Corporations”, The Accounting Review, 62 (3), 533–541.\r\n
2021, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Nghiên cứu này kiểm định vai trò của thông tin được cung cấp bởi hệ thống kế toán quản trị trong việc nâng cao thành quả công việc của nhà quản lý trong doanh nghiệp. Thông tin kế toán quản trị được tiếp cận ở góc độ mức độ sử dụng các đặc tính chất lượng thông tin của nhà quản lý. Thành quả của nhà quản lý được tiếp cận ở khía cạnh hành vi, gồm thành quả nhiệm vụ và thành quả theo ngữ cảnh. Kết quả phân tích PLS-SEM trên cơ sở dữ liệu khảo sát từ 134 nhà quản lý các cấp trong các doanh nghiệp tại Việt Nam chỉ ra rằng mức độ sử dụng thông tin kế toán quản trị góp phần phát triển năng lực tâm lý tích cực, từ đó tác động tích cực đến thành quả công việc của nhà quản lý. Kết quả nghiên cứu này bổ sung vào cơ sở lý thuyết trong các nghiên cứu kế toán quản trị về các yếu tố trung gian trong mối quan hệ giữa thông tin kế toán quản trị và thành quả công việc của nhà quản lý.
2020, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
"Hệ thống thông tin kế toán, hiểu theo nghĩa rộng, là lĩnh vực nghiên cứu và thực tiễn liên quan đến mục tiêu cung cấp thông tin kế toán cho các đối tượng sử dụng nhằm đưa ra
quyết định. Nó bao gồm cả lĩnh vực lập báo cáo tài chính (financial reporting) cung cấp cho bên ngoài và lĩnh vực thông tin kế toán cho quản trị doanh nghiệp. Cũng trong ngữ
cảnh này, hệ thống thông tin kế toán không chỉ là việc thiết kế, vận hành và giám sát hệ thống thông tin mà còn bao gồm những chuẩn mực về thông tin (chuẩn mực kế toán và báo cáo tài chính, các phương pháp kế toán quản trị…) và công tác kiểm soát, kiểm tra đối với các thông tin được cung cấp bởi hệ thống. Bài viết này điểm lại những xu hướng phát triển trong hệ thống thông tin kế toán hiểu theo nghĩa trên, phân tích động lực và các trở ngại của quá trình này nhằm cung cấp một cái nhìn tổng quan mang tính định hướng cho việc nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn tại VN.
2019, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Nâng cao chất lượng và hiệu quả kế toán ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là một trong những yêu cầu bức thiết nhằm giúp cho các doanh nghiệp này đứng vững và phát triển trong môi trường cạnh tranh gay gắt và hội nhập sâu rộng trong giai đoạn hiện nay. Có thể nói rằng chính chất lượng của công tác kế toán có ảnh hưởng trực tiếp và trong chuẩn mực nhất định có ảnh hưởng quyết định đến việc nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý ở doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng. Vấn đề đặt ra ở đây là phải xây dựng một mô hình tổ chức kế toán thích ứng với trình độ quản lý và cấp độ quy mô của DNNVV để qua đó tạo ra được những thông tin hữu ích cho các đối tượng sử dụng trên tinh thần bảo đảm sự hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích và chi phí. Bài viết tập trung vào nghiên cứu và định hình các mô hình tổ chức công tác kế toán thích ứng với các cấp độ quy mô của DNNVV ở VN sao cho DNNVV có thể thực hiện tốt công tác kế toán trong điều kiện không ngừng có sự chuyển đổi quy mô trong quá trình hoạt động.
2026, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Nghiên cứu kiểm định mối liên hệ giữa rủi ro thao túng số liệu kế toán và tránh thuế của các doanh nghiệp niêm yết phi tài chính Việt Nam giai đoạn 2016-2023. Tránh thuế được đo lường bằng thuế suất hiệu dụng kế toán (ACE) và thuế suất hiệu dụng dòng tiền (CFE), trong khi rủi ro thao túng được đo bằng Beneish M-score. Trên dữ liệu bảng, mô hình được ước lượng với hiệu ứng cố định theo ngành và năm, đồng thời vận dụng ước lượng GLS để xử lý phương sai thay đổi. Kết quả cho thấy M-score tương quan nghịch chiều với ACE nhưng đồng biến với CFE, hàm ý mối liên hệ giữa thao túng báo cáo và hành vi thuế phụ thuộc vào lớp đo lường thuế ghi nhận trên BCTC so với thuế thực nộp bằng tiền. Các kiểm định độ bền theo ngưỡng winsorize xác nhận dấu và ý nghĩa thống kê của kết quả là ổn định. Nghiên cứu bổ sung bằng chứng thực nghiệm cho tranh luận bổ trợ-đánh đổi trong bối cảnh thị trường mới nổi, đồng thời gợi mở hàm ý quản trị rủi ro cho cơ quan thuế, nhà đầu tư và kiểm toán viên. <br><br> Abstract <br>
This study examines the relationship between accounting manipulation risk and tax avoidance in Vietnamese non-financial listed companies from 2016 to 2023. Tax avoidance was measured using the accounting effective tax rate (ACE) and the cash flow effective tax rate (CFE), whereas the Beneish M-score assessed manipulation risk. Using panel data, the GLS model was employed to account for heteroskedasticity with industry-year fixed effects. The results showed that the M-score was inversely correlated with ACE but positively correlated with CFE, implying that the relationship between manipulation risk and tax behavior depends on the tax measurement class recorded in financial statements compared to actual cash tax paid. Winsorize strength tests confirmed the sign and statistical significance of the results. The study provides empirical evidence for the trade-off argument in the context of emerging markets, with implications for tax authorities, businesses, investors, and auditors.