Nghiên cứu này nhằm mục đích khám phá mối liên hệ giữa trách nhiệm xã hội doanh nghiệp về môi trường (ECSR) đến hành vi xanh của nhân viên trong lĩnh vực khách sạn, đồng thời kiểm tra vai trò trung gian của yếu tố hạnh phúc nhân viên và nhận dạng tổ chức trong mối quan hệ trên. Là một trong số rất ít nghiên cứu sử dụng lý thuyết xử lý thông tin xã hội trong lĩnh vực khách sạn, và bằng phương pháp nghiên cứu định lượng, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, hành vi xanh của nhân viên chịu sự tác động tích cực đáng kể bởi trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp về môi trường, hạnh phúc nhân viên và nhận dạng tổ chức. Hạnh phúc nhân viên và nhận dạng tổ chức đóng vai trò trung gian một phần trong mối quan hệ giữa ECSR và hành vi xanh của nhân viên. Kết quả nghiên cứu củng cố vai trò quan trọng của hoạt động ECSR đối với hành vi xanh của nhân viên trong lĩnh vực khách sạn.
Abstract
This study aims to explore the relationship between environmental corporate social responsibility (ECSR) and employee green behavior in the hotel sector, and test the mediating role of well-being factors and organizational identification in the above relationship. As one of the very few studies using social information processing theory in the hotel industry and using quantitative research methods, the research results have shown that employees green behavior is significantly positively influenced by the company's environmental corporate social responsibility, employee well-being, and organizational identification. Employee well-being and organizational identification play a partial mediating role in the relationship between ECSR and employee green behavior. The research results reinforce the important role of ECSR activities in the green behavior of employees in the hotel sector.
Từ khóa
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, hành vi xanh, nhận dạng tổ chức, hạnh phúc nhân viên Corporate social responsibility; Employee green behavior; Organizational identification; Employee well-being.
2026, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Bài báo này phân tích mối quan hệ giữa học hỏi tổ chức, quá trình quản trị tri thức và kết quả hoạt động tại 284 doanh nghiệp sản xuất chế tạo tại 25 tỉnh/thành phố của Việt Nam. Trong đó, học hỏi tổ chức và kết quả hoạt động là các biến cấu trúc bậc 1, còn quản trị tri thức là biến cấu trúc bậc 2 gồm 4 biến tiềm ẩn là: Thu thập, chuyển giao, ứng dụng và bảo vệ tri thức. Kết quả ước lượng OLS trên mô hình PLS-SEM chỉ ra rằng học hỏi tổ chức và quá trình quản trị tri thức tác động tích cực tới kết quả hoạt động định hướng tri thức. Tuy nhiên, quá trình quản trị tri thức có tác động lớn hơn học hỏi tổ chức tới kết quả hoạt động. Đồng thời, quá trình quản trị tri thức đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa học hỏi tổ chức và kết quả hoạt động trong các doanh nghiêp Việt Nam. <br><br> Abstract <br> This paper analyzes the relationship between organizational learning, knowledge process capability, and firm performance across 284 manufacturing enterprises in 25 provinces and cities in Vietnam. Among these variables, organizational learning and firm performance are first-order constructs, while knowledge process management is a second-order construct, comprising 4 latent variables, including: Knowledge acquisition, knowledge transfer, knowledge application, and knowledge protection. The estimation results following OLS methodology using the PLS-SEM model indicate that both organizational learning and the knowledge process capability have a positive impact on firm performance. However, knowledge process capability has a bigger effect on firm performance than organizational learning. Furthermore, the knowledge process capability also plays a mediating role in the relationship between organizational learning and firm performance in Vietnamese enterprises.
2026, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Bài báo này sử dụng đồng thời các biến cấu trúc bậc 1 và cấu trúc bậc 2 để đánh giá mối quan hệ giữa năng lực quá trình tri thức và năng lực đổi mới. Trong đó, quá trình tri thức là biến cấu trúc bậc 2 gồm có 3 nhân tố là sáng tạo tri thức, phổ biến tri thức và ứng dụng tri thức. Năng lực đổi mới cũng là biến cấu trúc bậc 2 gồm 2 nhân tố là tốc độ đổi mới và chất lượng đổi mới. Kết quả ước lượng các biến cấu trúc bậc 2 đối với 297 cán bộ, giảng viên làm việc tại 35 trường Đại học công lập và dân lập tại 10 tỉnh/thành phố của Việt Nam theo mô hình PLS-SEM chỉ ra rằng năng lực quá trình tri thức tác động tích cực tới năng lực đổi mới. Ngoài ra, kết quả phân tích biến cấu trúc bậc 1 cho thấy hầu hết các nhân tố của quá trình năng lực tri thức tác động tích cực tới tốc độ đổi mới và chất lượng đổi mới. Đồng thời, ứng dụng tri thức là trung gian trong mối quan hệ giữa sáng tạo tri thức và tốc độ đổi mới cũng như chất lượng đổi mới. <br><br>Abstract <br>
This study used a second-order construct to examine the relationship between knowledge process capability and innovation capability. Specifically, knowledge process capability is a second-order construct comprising three components: knowledge creation, knowledge dissemination, and knowledge application. Innovation is also a second-order construct, consisting of two components: innovation speed and innovation quality. The estimation results with a second-order construct based on a sample of 297 staff and lecturers from 35 public and private universities across 10 provinces and cities in Vietnam, using the Partial Least Squares Structural Equation Modeling (PLS-SEM), indicate that knowledge process capability has a positive impact on innovation capability. This result will help managers in Vietnamese universities clearly realize the importance of applying knowledge process capability to improve innovation activities, thereby improving organisational performance.
2025, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Nghiên cứu làm rõ cách thức tác động của lãnh đạo định hướng tri thức trong việc nâng cao hiệu quả đổi mới của tổ chức, đồng thời năng lực hấp thụ và năng lực phân tích dữ liệu lớn được đưa vào mô hình với vai trò như thành tố trung gian và điều tiết. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập thông qua bảng hỏi khảo sát 488 nhân sự thuộc các doanh nghiệp đang trong quá trình chuyển đổi số ở Việt Nam, sau đó được phân tích định lượng bằng phương pháp PLS-SEM. Kết quả nghiên cứu xác nhận năng lực hấp thụ là trung gian trong mối liên hệ mật thiết của lãnh đạo định hướng tri thức và hiệu quả đổi mới. Ngoài ra, khi tác động điều tiết của năng lực phân tích dữ liệu lớn được phát huy, vai trò của năng lực hấp thụ tới hiệu quả đổi mới cũng được tăng cường. <br><br> Abstract <br>
This study combines the knowledge-based view theory and dynamic capabilities theory to examine the impact of knowledge-oriented leadership on innovation performance, highlighting the roles of absorptive capacity and big data analytics capabilities. Quantitative data were collected through a structured questionnaire survey from employees of digital transformation enterprises in Vietnam and analyzed through the PLS-SEM method. The findings suggest that knowledge-oriented leadership influences innovation performance both directly and indirectly through absorptive capacity. Additionally, when big data analytics capabilities are high, the positive relationship between absorptive capacity and innovation performance becomes more pronounced.
2025, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Dựa trên quan điểm của lý thuyết trao đổi xã hội (SET), nghiên cứu này đánh giá tác động của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp cùng với đặc điểm của người lao động đến sự gắn kết của nhân viên. Nghiên cứu sử dụng mô hình cấu trúc tuyến tính theo cả hai phương pháp đơn hướng và đa hướng với dữ liệu thu thập từ 453 nhân viên làm việc tại các doanh nghiệp công nghệ thông tin truyền thông trên địa bàn Hà Nội. Kết quả cho thấy trách nhiệm xã hội tác động tích cực đến sự gắn kết của nhân viên, trong đó trách nhiệm pháp lý có tác động mạnh nhất. Nghiên cứu cũng sử dụng các biến kiểm soát là giới tính và thâm niên làm việc. Kết quả cho thấy chỉ có thâm niên làm việc tác động đến sự gắn kết của nhân viên. <br> <br> Abstract <br>
Based on the view of Social Exchange Theory, this research analyzes the impact of corporate social responsibility on the characteristics of employees on their engagement. The research applied Structural Equation Modeling with both unidimensional and multidimensional analysis to process the data of 453 employees working for Information & Communication Technology (ICT) enterprises in Hanoi. The results indicate that corporate social responsibility has a positive impact on employee engagement, in addition, legal responsibility has the strongest impact. The research also used control variables such as gender and job tenure. The results only show that job tenure has an effect on employee engagement.
2025, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Dựa trên lý thuyết trao đổi xã hội và lý thuyết nhận dạng xã hội, nghiên cứu này nhằm xem xét tác động của nhận thức trách nhiệm xã hội (CSR) và sự tham gia CSR đến vốn tâm lý của nhân viên và vai trò điều tiết của bản sắc đạo đức. Dữ liệu thu thập được từ cuộc khảo sát trực tuyến với 500 nhân viên làm việc tại các doanh nghiệp thực hiện CSR trên địa bàn Hà Nội, kết quả mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) cho thấy cả nhận thức CSR và sự tham gia CSR đều có tác động tích cực đến vốn tâm lý, đồng thời khẳng định vai trò điều tiết của bản sắc đạo đức. Ngoài ra, tác động tích cực của sự tham gia CSR tới vốn tâm lý cũng là một phát hiện của nghiên cứu này. Các hàm ý chính sách cho các doanh nghiệp và nhà nước nhằm nâng cao nhận thức, sự tham gia các hoạt động CSR và định hướng đạo đức của nhân viên được đưa ra. <br><br> Abstract <br>
Based on social exchange theory and social identity theory, this study aims to investigate the impact of Corporate Social Responsibility (CSR) perception and CSR participation on employees' PsyCap and the moderating role of moral identity. By using data collected from an online survey with 500 employees working at enterprises implementing CSR in Hanoi and employing structural equation modeling (SEM) analysis, the research result shows that both CSR perception and CSR participation of employees have positive impacts on PsyCap as well as affirms the moderating effect of moral identity. In addition, the positive impact of CSR participation on CSR perception is also a finding of this study. Policy implications for businesses and the state to raise a perception, participation in CSR activities, and moral orientation of employees are provided.