Mối quan hệ giữa năng lực đổi mới, năng lực tích hợp và kết quả hoạt động kinh doanh - Nghiên cứu điển hình tại các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam
Nguyen Phuong Linh & Nguyen duc Nhuan
DOI:
Email: linhnguyen@tmu.edu.vn
Đơn vị công tác: Truong dai hoc Thuong mai
Ngày nhận bài: 11/09/2021
Ngày nhận bài sửa:
21/10/2021
Ngày duyệt đăng: 02/03/2022
Lượt xem: 43
Downloads: 2
Các định dạng trích dẫn
Tóm tắt
Nghiên cứu này được thực hiện trên cơ sở kế thừa các lý thuyết nền tảng là lý thuyết nguồn lực RBV (Resource-Based view) và lý thuyết năng lực động (Dynamic capability) nhằm xem xét sự ảnh hưởng của năng lực đổi mới tới năng lực tích hợp và sự tác động của năng lực tích hợp tới kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bán lẻ. Với khách thể nghiên cứu là doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực bán lẻ, năng lực đổi mới được tiếp cận trên khía cạnh của đổi mới sáng tạo dịch vụ bán lẻ, năng lực tích hợp được xem xét trên phương diện quản trị thông tin tích hợp và xúc tiến tích hợp. Bằng việc thực hiện điều tra khảo sát 197 doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam, nghiên cứu sử dụng kỹ thuật phân tích PLS-SEM để phân tích dữ liệu và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra vai trò tiền đề của năng lực đổi mới dịch vụ trong việc nuôi dưỡng và thúc đẩy năng lực quản trị thông tin tích hợp và năng lực xúc tiến tích hợp. Đồng thời, năng lực quản trị thông tin tích hợp và năng lực xúc tiến tích hợp là những yếu tố quan trọng giúp cải thiện đáng kể kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bán lẻ.
Từ khóa
năng lực tích hợp, năng lực đổi mới sáng tạo, kết quả hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp bán lẻ
2020, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Quản trị chuỗi cung ứng (SCM) có ảnh hưởng tích cực tới việc cải thiện lợi thế cạnh tranh, gia tăng hiệu quả hoạt động cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) (Chin & cộng sự, 2012). Trong nghiên cứu này, thang đo vận hành chuỗi cung ứng được kiểm định trong điều kiện VN. Tác giả tiến hành đo lường vận hành chuỗi cung ứng tại 148 DNVVN tại Đà Nẵng. Kết quả cho thấy DNVVN Đà Nẵng mới chỉ thực hiện một số vận hành SCM mang tính truyền thống như: Quan tâm tới chất lượng của nhà cung cấp, tương tác với khách hàng, đo lường đánh giá sự hài lòng của khách hàng, còn lại việc vận hành những nội dung khác trong SCM còn khá khiêm tốn. Bên cạnh việc chỉ ra những tồn tại trong vận hành SCM của DNVVN Đà Nẵng, tác giả còn đề xuất một số hàm ý chính sách giúp doanh nghiệp cải thiện vận hành SCM, nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh trong thời gian tới.
2026, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Mục đích của nghiên cứu này là xem xét tác động của cảm nhận rủi ro về công nghệ hoán đổi khuôn mặt deepfake đến hành vi tự bảo vệ của người dùng mạng. Nghiên cứu xem xét 3 khía cạnh của rủi ro do deepfake mang lại gồm (1) rủi ro do thao túng thông tin, (2) Rủi ro riêng tư và (3) Rủi ro an ninh tác động đến hành vi tự bảo vệ của người tham gia các giao dịch trực tuyến. Nghiên cứu cũng sử dụng Lý thuyết hành động hợp lý (TRA) để khám phá vai trò trung gian của thái độ với hành vi tự bảo vệ trong mối quan hệ trên. Nghiên cứu đã khảo sát 289 người dùng internet Việt Nam. Kết quả của nghiên cứu này khẳng định nhận thức về rủi ro an ninh và rủi ro riêng tư do công nghệ Deepfake tác động trực tiếp và gián tiếp tới hành vi tự bảo vệ của người sử dụng qua biến trung gian thái độ. Rủi ro thông tin sai lệch do deepfakes có tác động tới hành vi nhưng không tác động tới thái độ tự bảo vệ. Những phát hiện này gợi ý một số giải pháp cho các nhà hoạch định chính sách, nhà phát triển công nghệ và người dùng trong nâng cao nhận thức và thúc đẩy các biện pháp tự bảo vệ trong giao dịch trực tuyến. <br><br> Abstract <br>
The purpose of this study is to examine the factors that influence internet users' self protection behavior. This study examines how 3 dimensions of Perceived risk including (1) Information Manipulation, (2) Privacy and (3) Security Risks influence online users' self-protection behaviors. This study also applies the Theory of Reasoned Action (TRA) to investigate the mediator role of attitudes toward self-protection behavior in these above relationships. The study surveys 289 participants from Vietnam. The results of this study highlight the significance of direct and indirect impacts of perceived Deepfake security and privacy risks on self-protection behaviors. Information Manipulation is confirmed to influence self-protection behaviors but is not confirmed to influence attitude toward self-protection behaviors. The findings provide valuable insights for policymakers, technology developers, and users on enhancing security awareness and promoting effective self protection measures in digital transactions.
2026, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Bài báo này phân tích mối quan hệ giữa học hỏi tổ chức, quá trình quản trị tri thức và kết quả hoạt động tại 284 doanh nghiệp sản xuất chế tạo tại 25 tỉnh/thành phố của Việt Nam. Trong đó, học hỏi tổ chức và kết quả hoạt động là các biến cấu trúc bậc 1, còn quản trị tri thức là biến cấu trúc bậc 2 gồm 4 biến tiềm ẩn là: Thu thập, chuyển giao, ứng dụng và bảo vệ tri thức. Kết quả ước lượng OLS trên mô hình PLS-SEM chỉ ra rằng học hỏi tổ chức và quá trình quản trị tri thức tác động tích cực tới kết quả hoạt động định hướng tri thức. Tuy nhiên, quá trình quản trị tri thức có tác động lớn hơn học hỏi tổ chức tới kết quả hoạt động. Đồng thời, quá trình quản trị tri thức đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa học hỏi tổ chức và kết quả hoạt động trong các doanh nghiêp Việt Nam. <br><br> Abstract <br> This paper analyzes the relationship between organizational learning, knowledge process capability, and firm performance across 284 manufacturing enterprises in 25 provinces and cities in Vietnam. Among these variables, organizational learning and firm performance are first-order constructs, while knowledge process management is a second-order construct, comprising 4 latent variables, including: Knowledge acquisition, knowledge transfer, knowledge application, and knowledge protection. The estimation results following OLS methodology using the PLS-SEM model indicate that both organizational learning and the knowledge process capability have a positive impact on firm performance. However, knowledge process capability has a bigger effect on firm performance than organizational learning. Furthermore, the knowledge process capability also plays a mediating role in the relationship between organizational learning and firm performance in Vietnamese enterprises.
2026, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Bài báo này sử dụng đồng thời các biến cấu trúc bậc 1 và cấu trúc bậc 2 để đánh giá mối quan hệ giữa năng lực quá trình tri thức và năng lực đổi mới. Trong đó, quá trình tri thức là biến cấu trúc bậc 2 gồm có 3 nhân tố là sáng tạo tri thức, phổ biến tri thức và ứng dụng tri thức. Năng lực đổi mới cũng là biến cấu trúc bậc 2 gồm 2 nhân tố là tốc độ đổi mới và chất lượng đổi mới. Kết quả ước lượng các biến cấu trúc bậc 2 đối với 297 cán bộ, giảng viên làm việc tại 35 trường Đại học công lập và dân lập tại 10 tỉnh/thành phố của Việt Nam theo mô hình PLS-SEM chỉ ra rằng năng lực quá trình tri thức tác động tích cực tới năng lực đổi mới. Ngoài ra, kết quả phân tích biến cấu trúc bậc 1 cho thấy hầu hết các nhân tố của quá trình năng lực tri thức tác động tích cực tới tốc độ đổi mới và chất lượng đổi mới. Đồng thời, ứng dụng tri thức là trung gian trong mối quan hệ giữa sáng tạo tri thức và tốc độ đổi mới cũng như chất lượng đổi mới. <br><br>Abstract <br>
This study used a second-order construct to examine the relationship between knowledge process capability and innovation capability. Specifically, knowledge process capability is a second-order construct comprising three components: knowledge creation, knowledge dissemination, and knowledge application. Innovation is also a second-order construct, consisting of two components: innovation speed and innovation quality. The estimation results with a second-order construct based on a sample of 297 staff and lecturers from 35 public and private universities across 10 provinces and cities in Vietnam, using the Partial Least Squares Structural Equation Modeling (PLS-SEM), indicate that knowledge process capability has a positive impact on innovation capability. This result will help managers in Vietnamese universities clearly realize the importance of applying knowledge process capability to improve innovation activities, thereby improving organisational performance.
2025, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Nghiên cứu này nhằm mục đích khám phá mối quan hệ giữa đổi mới sáng tạo và ba trụ cột của kết quả hoạt động bền vững (kinh tế, môi trường và xã hội) trong bối cảnh các doanh nghiệp (DN) công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng mô hình phương trình cấu trúc bình phương nhỏ nhất từng phần (PLS-SEM) để đánh giá tác động của đổi mới quy trình (ĐMQT) và đổi mới sản phẩm (ĐMSP) đến kết quả hoạt động bền vững, dựa trên dữ liệu khảo sát từ 254 DN ICT. Kết quả nghiên cứu cho thấy ĐMQT có tác động mạnh mẽ đến cả ba khía cạnh của kết quả hoạt động bền vững. Trong khi đó ĐMSP có ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh tế và môi trường nhưng tác động lên kết quả xã hội lại không có ý nghĩa thống kê. Những phát hiện này đóng góp thêm bằng chứng thực nghiệm từ một thị trường mới nổi như Việt Nam, đồng thời khuyến nghị các DN trong lĩnh vực ICT nên chú trọng vào ĐMQT cũng như cân nhắc lại chiến lược ĐMSP để mang lại kết quả bền vững toàn diện. <br><br>Abstract <br>
This article aims to explore the relationship between innovation and the three pillars of sustainability performance (economic, environmental, and social) in Vietnamese information and communication technology (ICT) enterprises. The study used the partial least squares structure equation model (PLS- SEM) to assess the impact of process innovation (PCI) and product innovation (PDI) on sustainability performance, based on survey data from 254 ICT firms. The results show that PCI has a substantial impact on all aspects of sustainability performance. Meanwhile, PDI affects economic and environmental performance, but the effect on social performance is not statistically significant. These findings contribute to empirical evidence from an emerging market such as Vietnam, and recommend that ICT enterprises should focus on process as well as reconsider their product innovation strategy to bring comprehensively sustainable efficiency.