Các yếu tố kinh tế và thể chế ảnh hưởng đến xác suất gây ra khủng hoảng tiền tệ tại các nền kinh tế mới nổi: Nghiên cứu thực nghiệm bằng Mô hình cảnh báo sớm và những gợi ý chính sách ổn định vĩ mô cho VN
Nguyen Trong Hoai & Truong Hong Tuan
DOI:
Email: hoaianh@ueh.edu.vn
Đơn vị công tác:
Ngày nhận bài: 06/02/2018
Ngày nhận bài sửa:
06/02/2018
Ngày duyệt đăng: 06/01/2021
Lượt xem: 10
Downloads: 0
Các định dạng trích dẫn
Tóm tắt
Khủng hoảng tài chính Mỹ phát sinh năm 2008 đãđ ặt ra một tất yếu cho các học giả nhìn lại các lý thuyết khủng hoảng tiền tệ hình thành từ trước đến nay nhằm tìm ra các yếu tố căn bảnc ó khả năng dẫn đến khủng hoảng, để từ đó đưa ra những cảnh báo sớm cho các nước đang phát triển trong đó có VN. Ngoài ra, việc điều chỉnh tỉ giá hối đoái của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vào cuối năm 2009, mặc dù là chủ động và đúng lộ trình theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế nhưng cũng cho thấy sự cần thiết tìm ra những yếu tố ngăn ngừa xảy ra khủng hoảng tiền tệ tạiVN.Hơn nữa, Diễn đàn Kinh tế Thế giới (2010) cho rằng khủng hoảng tài chính năm 2008 đã kéo theo khủng hoảng kinh tế năm 2009 và dự báo năm 2010 nguy cơ có thể gây ra khủng hoảng xã hội nếu nền kinh tế thế giới hồi phục không bền vững. Các lý thuyết khủng hoảng tiền tệ gợi ý rằng các nhóm biến thuộc kinh tế và thể chế (institutions) có thể được sử dụng trong các mô hình cảnh báo sớm để dự đoán khủng hoảng tiền tệ và từ đó hướng đến các chính sách ngăn ngừa khủng hoảng căn cứ vào hiện trạng của những chỉ báo kinh tế và thể chế này. Đóng góp chính của nghiên cứu này là sự tích hợp 6 yếu tố kinh tế từ mô hình Berg và Pattillo (1999b) của IMF (BP) và 6 yếu tố thể chế từ Worldwide Governance Indicators (Kaumann và cộng sự., 2008), trước đây các nghiên cứu cảnh báo sớm về khủng hoảng tiền tệ thường chỉ nghiên cứu nhóm yếu tố kinh tế và thường bỏ qua yếu tố thể chế trong mô hình định lượng. Sáu biến kinh tế bao gồm: định giá nội tệ vượt quá tỷ giá thực (overvalued), suy giảm dự trữ ngoại hối, suy giảm xuất khẩu, thâm hụt tài khoản vãng lai, tỷ lệ nợ ngắn hạn nước ngoài/dự trữ ngoại hối và tăng trưởng tín dụng nội địa. Sáu biến thể chế bao gồm: trách nhiệm thể chế, ổn định chính trị, chính phủ hiệu quả, chất lượng chính sách phát triển kinh tế tư nhân, luật lệ, kiểm soát tham nhũng. Hai nhóm biến kinh tế và thể chế được tích hợp trong Mô hình cảnh báo khủng hoảng sớm bằng cách sử dụng mô hình logit đơn giản với dữ liệu của 15 nền kinh tế mới nổi trong giai đoạn 1996-2005. Phát hiện mới của nghiên cứu này là việc nâng cao trách nhiệm thể chế có tác động ý nghĩa trong việc giảm nguy cơ gây ra khủng hoảng tiền tệ. Ngoài ra, biến “Chất lượng chính sách phát triển kinh tế tư nhân” cũng có tác động tương tự trong việc giảm nguy cơ khủng hoảng tiền tệ với một mức độ thấp hơn. Nghiên cứu này cũng tái khẳng định: Tăng trưởng tín dụng nội địa,suy giảm xuất khẩu và thâm hụt tài khoản vãng lai kéo dài sẽ tăng nguy cơ khủng hoảng tiền tệ. Sau cùng thì nhóm nghiên cứu sẽ đưa ra một số gợi ý chính sách ổn định vĩ mô với mục tiêu nâng cao chất lượng các biến kinh tế và thể chế nhằm giảm thiểu nguy cơ khủng hoảng tiền tệ tại VN.
2019, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Nghiên cứu này được thực hiện với mục đích lượng hóa mối quan hệ giữa quản trị công ty với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp ở VN. Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố của quản trị công ty như: thành viên nữ trong Hội đồng quản trị (HĐQT), quyền kiêm nhiệm, kinh nghiệm của HĐQT, và thù lao của HĐQT tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động công ty. Ngoài ra, quy mô của HĐQT tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động công ty. Đặc biệt hơn, kết quả nghiên cứu còn thể hiện tỉ lệ sở hữu vốn của HĐQT có mối quan hệ phi tuyến với hiệu quả hoạt động công ty. Tuy nhiên, kết quả tác động của trình độ học vấn, thành viên HĐQT không điều hành và cổ đông lớn đến hiệu quả hoạt động công ty trong nghiên cứu này vẫn chưa thể kết luận.
2019, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa lòng trung thành của khách hàng và các yếu tố chất lượng dịch vụ ADSL, bằng việc khảo sát 289 khách hàng tại TP.HCM. Thang đo SERVPERF (Cronin & Taylor, 1992) được sử dụng có điều chỉnh, phương pháp phân tích độ tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, cùng với phân tích hồi quy. Kết quả cho thấy chất lượng dịch vụ ADSL được đo bằng 6 thành phần được thể hiện theo thứ tự tầm quan trọng: (1) Cảm nhận giá cả; (2) Năng lực phục vụ; (3) Phương tiện hữu hình; (4) giá trị gia tăng tiện ích; (5) Khả năng đáp ứng; và (6) Độ tin cậy; sự thoả mãn của khách hàng ảnh hưởng tỷ lệ thuận với lòng trung thành dịch vụ. Nghiên cứu đề ra một số kiến nghị cho ban lãnh đạo các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ ADSL nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ để làm tăng lòng trung thành khách hàng.
2022, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Mục tiêu của nền kinh tế VN trong những năm tới là tiếp tục ổn định vĩ mô và giữ vững đà tăng trưởng kinh tế. Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi tập trung phân tích và đánh giá việc thực hiện các chỉ số kinh tế và cân đối vĩ mô chủ yếu nhằm cung cấp bức tranh toàn cảnh nền kinh tế VN trong năm 2010. Chúng tôi nhận thấy rằng nền kinh tế tuy đã phục hồi và lấy lại đà tăng trưởng nhưng vẫn phải đối diện với ba bất ổn vĩ mô đặc thù: lạm phát, nhập siêu và nợ công. Trên cơ sở dự báo viễn cảnh nền kinh tế VN từ năm 2011 trở đi và làm rõ ba bất ổn này, một số khuyến nghị chính sách được đưa ra nhằm giảm thiểu ba bất ổn và thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng theo quan điểm bền vững. Chúng tôi cho rằng chính sách tiền tệ cần ưu tiên cho mục tiêu ổn định vĩ mô, đi đôi với tăng cường kỷ luật tài khóa; hơn nữa, cần chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên bốn trụ cột: tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến có giá trị gia tăng cao, phát triển công nghiệp phụ trợ, thúc đẩy đổi mới công nghệ, và tinh gọn khu vực DNNN. Ngoài ra, chính sách nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng và thể chế sẽ là những điều kiện căn bản nhất sẽ góp phần thúc đẩy nhanh việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng trong bối cảnh toàn cầu hóa.
2022, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Mục tiêu nghiên cứu nhằm điều tra làm sao doanh nghiệp đạt được hiệu quả sử dụng dịch công trực tuyến dưới tác động của môi trường phát triển công nghệ thông tin, khả năng thích ứng, khả năng vượt qua khó khăn và động lực áp dụng công nghệ. Nghiên cứu dựa vào kết quả của 12 cuộc phỏng vấn chuyên sâu để xây dựng bảng câu hỏi khảo sát sơ bộ, sau đó điều chỉnh lại dựa trên bối cảnh thực tế về việc ứng dụng công nghệ thông tin tại các doanh nghiệp Bình Dương. Tác giả sử dụng mô hình cấu trúc tuyến tính theo phương pháp bình phương tối thiểu từng phần (PLS-SEM) để kiểm định mối tương quan giữa các nhân tố trong mô hình trên cơ sở phân tích 274 mẫu quan sát thu thập được từ đại diện doanh nghiệp đang hoạt động tại tỉnh Bình Dương. Kết quả nghiên cứu chỉ ra môi trường tác động (về kĩ thuật ứng dụng công nghệ thông tin) và khả năng thích ứng công nghệ của doanh nghiệp có ảnh hưởng quan trọng và trực tiếp đến hiệu quả sử dụng dịch vụ công trực tuyến.