2025
Năm thứ. 36(12), Tháng 12/2025
Năm thứ. 36(11), Tháng 11/2025
Năm thứ. 36(10), Tháng 10/2025
Năm thứ. 36(9), Tháng 9/2025
Năm thứ. 36(8), Tháng 8/2025
Năm thứ. 36(7), Tháng 7/2025
Năm thứ. 36(6), Tháng 6/2025
Năm thứ. 36(5), Tháng 5/2025
Năm thứ. 36(4), Tháng 4/2025
Năm thứ. 36(3), Tháng 3/2025
Năm thứ. 36(2), Tháng 2/2025
Năm thứ. 36(1), Tháng 1/2025
2024
Năm thứ. 35(12), Tháng 12/2024
Năm thứ. 35(11), Tháng 11/2024
Năm thứ. 35(10), Tháng 10/2024
Năm thứ. 35(9), Tháng 9/2024
Năm thứ. 35(8), Tháng 8/2024
Năm thứ. 35(7), Tháng 7/2024
Năm thứ. 35(6), Tháng 6/2024
Năm thứ. 35(5), Tháng 5/2024
Năm thứ. 35(4), Tháng 4/2024
Năm thứ. 35(3), Tháng 3/2024
Năm thứ. 35(2), Tháng 2/2024
Năm thứ. 35(1), Tháng 1/2024
2023
Năm thứ. 34(12), Tháng 12/2023
Năm thứ. 34(11), Tháng 11/2023
Năm thứ. 34(10), Tháng 10/2023
Năm thứ. 34(9), Tháng 9/2023
Năm thứ. 34(8), Tháng 8/2023
Năm thứ. 34(7), Tháng 7/2023
Năm thứ. 34(6), Tháng 6/2023
Năm thứ. 34(5), Tháng 5/2023
Năm thứ. 34(4), Tháng 4/2023
Năm thứ. 34(3), Tháng 3/2023
Năm thứ. 34(2), Tháng 2/2023
Năm thứ. 34(1), Tháng 1/2023
2022
Năm thứ. 33(12), Tháng 12/2022
Năm thứ. 33(11), Tháng 11/2022
Năm thứ. 33(10), Tháng 10/2022
Năm thứ. 33(9), Tháng 9/2022
Năm thứ. 33(8), Tháng 8/2022
Năm thứ. 33(7), Tháng 7/2022
Năm thứ. 33(6), Tháng 6/2022
Năm thứ. 33(5), Tháng 5/2022
Năm thứ. 33(4), Tháng 4/2022
Năm thứ. 33(3), Tháng 3/2022
Năm thứ. 33(2), Tháng 2/2022
Năm thứ. 33(1), Tháng 1/2022
2021
Năm thứ. 32(12), Tháng 12/2021
Năm thứ. 32(11), Tháng 11/2021
Năm thứ. 32(10), Tháng 10/2021
Năm thứ. 32(9), Tháng 9/2021
Năm thứ. 32(8), Tháng 8/2021
Năm thứ. 32(7), Tháng 7/2021
Năm thứ. 32(6), Tháng 6/2021
Năm thứ. 32(5), Tháng 5/2021
Năm thứ. 32(4), Tháng 4/2021
Năm thứ. 32(3), Tháng 3/2021
Năm thứ. 32(2), Tháng 2/2021
Năm thứ. 32(1), Tháng 1/2021
2020
Năm thứ. 31(12), Tháng 12/2020
Năm thứ. 31(11), Tháng 11/2020
Năm thứ. 31(10), Tháng 10/2020
Năm thứ. 31(9), Tháng 9/2020
Năm thứ. 31(8), Tháng 8/2020
Năm thứ. 31(7), Tháng 7/2020
Năm thứ. 31(6), Tháng 6/2020
Năm thứ. 31(5), Tháng 5/2020
Năm thứ. 31(4), Tháng 4/2020
Năm thứ. 31(3), Tháng 3/2020
Năm thứ. 31(2), Tháng 2/2020
Năm thứ. 31(1), Tháng 1/2020
2019
Năm thứ. 30(12), Tháng 12/2019
Năm thứ. 30(11), Tháng 11/2019
Năm thứ. 30(10), Tháng 10/2019
Năm thứ. 30(9), Tháng 9/2019
Năm thứ. 30(8), Tháng 8/2019
Năm thứ. 30(7), Tháng 7/2019
Năm thứ. 30(6), Tháng 6/2019
Năm thứ. 30(5), Tháng 5/2019
Năm thứ. 30(4), Tháng 4/2019
Năm thứ. 30(3), Tháng 3/2019
Năm thứ. 30(2), Tháng 2/2019
Năm thứ. 30(1), Tháng 1/2019
2018
Năm thứ. 29(12), Tháng 12/2018
Năm thứ. 29(11), Tháng 11/2018
Năm thứ. 29(10), Tháng 10/2018
Năm thứ. 29(9), Tháng 9/2018
Năm thứ. 29(8), Tháng 8/2018
Năm thứ. 29(7), Tháng 7/2018
Năm thứ. 29(6), Tháng 6/2018
Năm thứ. 29(5), Tháng 5/2018
Năm thứ. 29(4), Tháng 4/2018
Năm thứ. 29(3), Tháng 3/2018
Năm thứ. 29(2), Tháng 2/2018
Năm thứ. 29(1), Tháng 1/2018
2017
Năm thứ. 28(12), Tháng 12/2017
Năm thứ. 28(11), Tháng 11/2017
Năm thứ. 28(10), Tháng 10/2017
Năm thứ. 28(9), Tháng 9/2017
Năm thứ. 28(8), Tháng 8/2017
Năm thứ. 28(7), Tháng 7/2017
Năm thứ. 28(6), Tháng 6/2017
Năm thứ. 28(5), Tháng 5/2017
Năm thứ. 28(4), Tháng 4/2017
Năm thứ. 28(3), Tháng 3/2017
Năm thứ. 28(2), Tháng 2/2017
Năm thứ. 28(1), Tháng 1/2017
2016
Năm thứ. 27(12), Tháng 12/2016
Năm thứ. 27(11), Tháng 11/2016
Năm thứ. 27(10), Tháng 10/2016
Năm thứ. 27(9), Tháng 9/2016
Năm thứ. 27(8), Tháng 8/2016
Năm thứ. 27(7), Tháng 7/2016
Năm thứ. 27(6), Tháng 6/2016
Năm thứ. 27(5), Tháng 5/2016
Năm thứ. 27(4), Tháng 4/2016
Năm thứ. 27(3), Tháng 3/2016
Năm thứ. 27(2), Tháng 2/2016
Năm thứ. 27(1), Tháng 1/2016
2015
Năm thứ. 26(12), Tháng 12/2015
Năm thứ. 26(11), Tháng 11/2015
Năm thứ. 26(10), Tháng 10/2015
Năm thứ. 26(9), Tháng 9/2015
Năm thứ. 26(8), Tháng 8/2015
Năm thứ. 26(7), Tháng 7/2015
Năm thứ. 26(6), Tháng 6/2015
Năm thứ. 26(5), Tháng 5/2015
Năm thứ. 26(4), Tháng 4/2015
Năm thứ. 26(3), Tháng 3/2015
Năm thứ. 26(2), Tháng 2/2015
Năm thứ. 26(1), Tháng 1/2015
2014
Số 290, Tháng 12/2014
Số 289, Tháng 11/2014
Số 288, Tháng 10/2014
Số 287, Tháng 9/2014
Số 286, Tháng 8/2014
Số 285, Tháng 7/2014
Số 284, Tháng 6/2014
Số 284DS, Tháng 6/2014
Số 283, Tháng 5/2014
Số 282, Tháng 4/2014
Số 281, Tháng 3/2014
Số 280, Tháng 2/2014
Số 279, Tháng 1/2014
2013
Số 278, Tháng 12/2013
Số 277, Tháng 11/2013
Số 276, Tháng 10/2013
Số 276DS, Tháng 10/2013
Số 275, Tháng 9/2013
Số 274, Tháng 8/2013
Số 273, Tháng 7/2013
Số 272, Tháng 6/2013
Số 271, Tháng 5/2013
Số 270, Tháng 4/2013
Số 269, Tháng 3/2013
Số 268, Tháng 2/2013
Số 267, Tháng 1/2013
2012
Số 266, Tháng 12/2012
Số 265, Tháng 11/2012
Số 264, Tháng 10/2012
Số 263, Tháng 9/2012
Số 262, Tháng 8/2012
Số 261, Tháng 7/2012
Số 260, Tháng 6/2012
Số 259, Tháng 5/2012
Số 258, Tháng 4/2012
Số 257, Tháng 3/2012
Số 256, Tháng 2/2012
Số 255, Tháng 1/2012
2011
Số 254, Tháng 12/2011
Số 253, Tháng 11/2011
Số 252, Tháng 10/2011
Số 251, Tháng 9/2011
Số 250, Tháng 8/2011
Số 249, Tháng 7/2011
Số 248, Tháng 6/2011
Số 247, Tháng 5/2011
Số 246, Tháng 4/2011
Số 245, Tháng 3/2011
Số 244, Tháng 2/2011
Số 243, Tháng 1/2011
2010
Số 242, Tháng 12/2010
Số 241, Tháng 11/2010
Số 240, Tháng 10/2010
Số 239, Tháng 9/2010
Số 238, Tháng 8/2010
Số 237, Tháng 7/2010
Số 236, Tháng 6/2010
Số 235, Tháng 5/2010
Số 234, Tháng 4/2010
Số 233, Tháng 3/2010
Số 232, Tháng 2/2010
Số 231, Tháng 1/2010
2009
Số 230, Tháng 12/2009
Số 229, Tháng 11/2009
Số 228, Tháng 10/2009
Số 227, Tháng 9/2009
Số 226, Tháng 8/2009
Số 225, Tháng 7/2009
Số 224, Tháng 6/2009
Số 223, Tháng 5/2009
Số 222, Tháng 4/2009
Số 221, Tháng 3/2009
Số 220, Tháng 2/2009
Số 219, Tháng 1/2009
2008
Số 218, Tháng 12/2008
Số 217, Tháng 11/2008
Số 216, Tháng 10/2008
Số 215, Tháng 9/2008
Số 214, Tháng 8/2008
Số 213, Tháng 7/2008
Số 212, Tháng 6/2008
Số 211, Tháng 5/2008
Số 210, Tháng 4/2008
Số 209, Tháng 3/2008
Số 208, Tháng 2/2008
Số 207, Tháng 1/2008
2007
Số 206, Tháng 12/2007
Số 205, Tháng 11/2007
Số 204, Tháng 10/2007
Số 203, Tháng 9/2007
Số 202, Tháng 8/2007
Số 201, Tháng 7/2007
Số 200, Tháng 6/2007
Số 199, Tháng 5/2007
Số 198, Tháng 4/2007
Số 197, Tháng 3/2007
Số 196, Tháng 2/2007
Số 195, Tháng 1/2007
2006
Số 194, Tháng 12/2006
Số 193, Tháng 11/2006
Số 192, Tháng 10/2006
Số 191, Tháng 9/2006
Số 190, Tháng 8/2006
Số 189, Tháng 7/2006
Số 188, Tháng 6/2006
Số 187, Tháng 5/2006
Số 186, Tháng 4/2006
Số 185, Tháng 3/2006
Số 184, Tháng 2/2006
Số 183, Tháng 1/2006
2005
Số 182, Tháng 12/2005
Số 181, Tháng 11/2005
Số 180, Tháng 10/2005
Số 179, Tháng 9/2005
Số 178, Tháng 8/2005
Số 177, Tháng 7/2005
Số 176, Tháng 6/2005
Số 175, Tháng 5/2005
Số 174, Tháng 4/2005
Số 173, Tháng 3/2005
Số 172, Tháng 2/2005
Số 171, Tháng 1/2005
2004
Số 170, Tháng 12/2004
Số 169, Tháng 11/2004
Số 168, Tháng 10/2004
Số 167, Tháng 9/2004
Số 166, Tháng 8/2004
Số 165, Tháng 7/2004
Số 164, Tháng 6/2004
Số 163, Tháng 5/2004
Số 162, Tháng 4/2004
Số 161, Tháng 3/2004
Số 160, Tháng 2/2004
Số 159, Tháng 1/2004
2003
Số 158, Tháng 12/2003
Số 157, Tháng 11/2003
Số 156, Tháng 10/2003
Số 155, Tháng 9/2003
Số 154, Tháng 8/2003
Số 153, Tháng 7/2003
Số 152, Tháng 6/2003
Số 151, Tháng 5/2003
Số 150, Tháng 4/2003
Số 149, Tháng 3/2003
Số 148, Tháng 2/2003
Số 147, Tháng 1/2003
2002
Số 146, Tháng 12/2002
Số 145, Tháng 11/2002
Số 144, Tháng 10/2002
Số 143, Tháng 9/2002
Số 142, Tháng 8/2002
Số 141, Tháng 7/2002
Số 140, Tháng 6/2002
Số 139, Tháng 5/2002
Số 138, Tháng 4/2002
Số 137, Tháng 3/2002
Số 136, Tháng 2/2002
Số 135, Tháng 1/2002
2001
Số 134, Tháng 12/2001
Số 133, Tháng 11/2001
Số 132, Tháng 10/2001
Số 131, Tháng 9/2001
Số 130, Tháng 8/2001
Số 129, Tháng 7/2001
Số 128, Tháng 6/2001
Số 127, Tháng 5/2001
Số 126, Tháng 4/2001
Số 125, Tháng 3/2001
Số 124, Tháng 2/2001
Số 123, Tháng 1/2001
2000
Số 122, Tháng 12/2000
Số 121, Tháng 11/2000
Số 120, Tháng 10/2000
Số 119, Tháng 9/2000
Số 118, Tháng 8/2000
Số 117, Tháng 7/2000
Số 116, Tháng 6/2000
Số 115, Tháng 5/2000
Số 114, Tháng 4/2000
Số 113, Tháng 3/2000
Số 112, Tháng 2/2000
Số 111, Tháng 1/2000
1999
Số 110, Tháng 12/1999
Số 109, Tháng 11/1999
Số 108, Tháng 10/1999
Số 107, Tháng 9/1999
Số 106, Tháng 8/1999
Số 105, Tháng 7/1999
Số 104, Tháng 6/1999
Số 103, Tháng 5/1999
Số 102, Tháng 4/1999
Số 101, Tháng 3/1999
Số 100, Tháng 2/1999
Số 99, Tháng 1/1999
1998
Số 98, Tháng 12/1998
Số 97, Tháng 11/1998
Số 96, Tháng 10/1998
Số 95, Tháng 9/1998
Số 94, Tháng 8/1998
Số 93, Tháng 7/1998
Số 92, Tháng 6/1998
Số 91, Tháng 5/1998
Số 90, Tháng 4/1998
Số 89, Tháng 3/1998
Số 88, Tháng 2/1998
Số 87, Tháng 1/1998
1997
Số 86, Tháng 12/1997
Số 85, Tháng 11/1997
Số 84, Tháng 10/1997
Số 83, Tháng 9/1997
Số 82, Tháng 8/1997
Số 81, Tháng 7/1997
Số 80, Tháng 6/1997
Số 79, Tháng 5/1997
Số 78, Tháng 4/1997
Số 77, Tháng 3/1997
Số 76, Tháng 2/1997
Số 75, Tháng 1/1997
1996
Số 74, Tháng 12/1996
Số 73, Tháng 11/1996
Số 72, Tháng 10/1996
Số 71, Tháng 9/1996
Số 70, Tháng 8/1996
Số 69, Tháng 7/1996
Số 68, Tháng 6/1996
Số 67, Tháng 5/1996
Số 66, Tháng 4/1996
Số 65, Tháng 3/1996
Số 64, Tháng 2/1996
Số 63, Tháng 1/1996
1995
Số 62, Tháng 12/1995
Số 61, Tháng 11/1995
Số 60, Tháng 10/1995
Số 59, Tháng 9/1995
Số 58, Tháng 8/1995
Số 57, Tháng 7/1995
Số 56, Tháng 6/1995
Số 55, Tháng 5/1995
Số 54, Tháng 4/1995
Số 53, Tháng 3/1995
Số 52, Tháng 2/1995
Số 51, Tháng 1/1995
1994
Số 50, Tháng 12/1994
Số 49, Tháng 11/1994
Số 48, Tháng 10/1994
Số 47, Tháng 9/1994
Số 46, Tháng 8/1994
Số 45, Tháng 7/1994
Số 44, Tháng 6/1994
Số 43, Tháng 5/1994
Số 42, Tháng 4/1994
Số 41, Tháng 3/1994
Số 40, Tháng 2/1994
Số 39, Tháng 1/1994
1993
Số 38, Tháng 12/1993
Số 37, Tháng 11/1993
Số 36, Tháng 10/1993
Số 35, Tháng 9/1993
Số 34, Tháng 8/1993
Số 33, Tháng 7/1993
Số 32, Tháng 6/1993
Số 31, Tháng 5/1993
Số 30, Tháng 4/1993
Số 29, Tháng 3/1993
Số 28, Tháng 2/1993
Số 27, Tháng 1/1993
1992
Số 26, Tháng 12/1992
Số 25, Tháng 11/1992
Số 24, Tháng 10/1992
Số 23, Tháng 9/1992
Số 22, Tháng 8/1992
Số 21, Tháng 7/1992
Số 20, Tháng 6/1992
Số 19, Tháng 5/1992
Số 18, Tháng 4/1992
Số 17 (Số tháng 2-3), Tháng 3/1992
Số 16, Tháng 1/1992
1991
Số 15, Tháng 12/1991
Số 14, Tháng 11/1991
Số 13, Tháng 10/1991
Số 12, Tháng 9/1991
Số 11, Tháng 8/1991
Số 10 (Tháng 6-7), Tháng 7/1991
Số 9, Tháng 5/1991
Số 8, Tháng 4/1991
Số 7, Tháng 2/1991
Số 6, Tháng 1/1991
1990
Mở rộng
|
| Số 234 , Tháng 4/2010 |
|
|
| |
Mô hình định lượng các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông dân
(trang 32-36)
dinh Phi Ho & Chiv Vann Dy
Bản điện tử: 06 Jan 2021 | DOI:
Tóm tắt
Trong thời gian qua, giới khoa học kinh tế trong và ngoài nước đã có nhiều công trình nghiên cứu về giải pháp nâng cao thu nhập cho nông dân. Tuy nhiên, luận cứ khoa học cho các giải pháp hiện vẫn còn bỏ ngỏ, nhất là mô hình định lượng các yếu tố tác động đến thu nhập. Do đó, nhận diện một mô hình định lượng thích hợp dựa trên nền tảng của lý thuyết kinh tế học nông nghiệp và bằng chứng thực tiễn là một thách thức đặt ra cho các nhà nghiên cứu chính sách. Để thực hiện điều này, tác giả tiến hành một nghiên cứu về thu nhập của nông dân sản xuất lúa tại tỉnh Kampong Cham, Campuchia nhằm tìm kiếm những bằng chứng thực tiễn cho mô hình. Nội dung bài viết tập trung vào hai vấn đề chính: Khung lý thuyết của mô hình định lượng và kết quả ứng dụng đối với nông dân sản xuất lúa ở Campuchia
Các yếu tố kinh tế và thể chế ảnh hưởng đến xác suất gây ra khủng hoảng tiền tệ tại các nền kinh tế mới nổi: Nghiên cứu thực nghiệm bằng Mô hình cảnh báo sớm và những gợi ý chính sách ổn định vĩ mô cho VN
(trang 10-15)
Nguyen Trong Hoai & Truong Hong Tuan
Bản điện tử: 06 Jan 2021 | DOI:
Tóm tắt
Khủng hoảng tài chính Mỹ phát sinh năm 2008 đãđ ặt ra một tất yếu cho các học giả nhìn lại các lý thuyết khủng hoảng tiền tệ hình thành từ trước đến nay nhằm tìm ra các yếu tố căn bảnc ó khả năng dẫn đến khủng hoảng, để từ đó đưa ra những cảnh báo sớm cho các nước đang phát triển trong đó có VN. Ngoài ra, việc điều chỉnh tỉ giá hối đoái của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vào cuối năm 2009, mặc dù là chủ động và đúng lộ trình theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế nhưng cũng cho thấy sự cần thiết tìm ra những yếu tố ngăn ngừa xảy ra khủng hoảng tiền tệ tạiVN.Hơn nữa, Diễn đàn Kinh tế Thế giới (2010) cho rằng khủng hoảng tài chính năm 2008 đã kéo theo khủng hoảng kinh tế năm 2009 và dự báo năm 2010 nguy cơ có thể gây ra khủng hoảng xã hội nếu nền kinh tế thế giới hồi phục không bền vững. Các lý thuyết khủng hoảng tiền tệ gợi ý rằng các nhóm biến thuộc kinh tế và thể chế (institutions) có thể được sử dụng trong các mô hình cảnh báo sớm để dự đoán khủng hoảng tiền tệ và từ đó hướng đến các chính sách ngăn ngừa khủng hoảng căn cứ vào hiện trạng của những chỉ báo kinh tế và thể chế này. Đóng góp chính của nghiên cứu này là sự tích hợp 6 yếu tố kinh tế từ mô hình Berg và Pattillo (1999b) của IMF (BP) và 6 yếu tố thể chế từ Worldwide Governance Indicators (Kaumann và cộng sự., 2008), trước đây các nghiên cứu cảnh báo sớm về khủng hoảng tiền tệ thường chỉ nghiên cứu nhóm yếu tố kinh tế và thường bỏ qua yếu tố thể chế trong mô hình định lượng. Sáu biến kinh tế bao gồm: định giá nội tệ vượt quá tỷ giá thực (overvalued), suy giảm dự trữ ngoại hối, suy giảm xuất khẩu, thâm hụt tài khoản vãng lai, tỷ lệ nợ ngắn hạn nước ngoài/dự trữ ngoại hối và tăng trưởng tín dụng nội địa. Sáu biến thể chế bao gồm: trách nhiệm thể chế, ổn định chính trị, chính phủ hiệu quả, chất lượng chính sách phát triển kinh tế tư nhân, luật lệ, kiểm soát tham nhũng. Hai nhóm biến kinh tế và thể chế được tích hợp trong Mô hình cảnh báo khủng hoảng sớm bằng cách sử dụng mô hình logit đơn giản với dữ liệu của 15 nền kinh tế mới nổi trong giai đoạn 1996-2005. Phát hiện mới của nghiên cứu này là việc nâng cao trách nhiệm thể chế có tác động ý nghĩa trong việc giảm nguy cơ gây ra khủng hoảng tiền tệ. Ngoài ra, biến “Chất lượng chính sách phát triển kinh tế tư nhân” cũng có tác động tương tự trong việc giảm nguy cơ khủng hoảng tiền tệ với một mức độ thấp hơn. Nghiên cứu này cũng tái khẳng định: Tăng trưởng tín dụng nội địa,suy giảm xuất khẩu và thâm hụt tài khoản vãng lai kéo dài sẽ tăng nguy cơ khủng hoảng tiền tệ. Sau cùng thì nhóm nghiên cứu sẽ đưa ra một số gợi ý chính sách ổn định vĩ mô với mục tiêu nâng cao chất lượng các biến kinh tế và thể chế nhằm giảm thiểu nguy cơ khủng hoảng tiền tệ tại VN.
Các yếu tố tác động đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp FDI trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh
(trang 54-59)
Nguyen Anh Phong & Nguyen Thi Ngoc Diep
Bản điện tử: 06 Jan 2021 | DOI:
Tóm tắt
Từ khi mở cửa nền kinh tế đến nay số lượng các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đến VN sản xuất kinh doanh ngày càng nhiều. Khu vực các doanh nghiệp FDI đóng góp đáng kể cho tăng trưởng kinh tế, giải quyết công ăn việc làm, kim ngạch xuất khẩu... Tuy nhiên, chúng ta cũng cần nhìn nhận lại hiệu quả hoạt động mà cụ thể hơn là hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp này trong thời gian qua như thế nào, các yếu tố nào tác động đến hiệu quả của nó, các doanh nghiệp hoạt động trong ngành nghề nào là hiệu quả... Từ đó có chính sách phù hợp thúc đẩy tái cấu trúc vốn, sử dụng vốn hợp lý, đầu tư hợp lý, qua đó các cơ quan quản lý nhà nước cũng có cơ sở để xem xét lại cơ cấu ngành nghề cần thu hút đầu tư phù hợp trong thời gian tới nhằm góp phần nâng cao chất lượng đầu tư.
Môi trường đầu tư thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại TP.HCM - Thực trạng và giải pháp
(trang 23-31)
Duong Thi Binh Minh & Su dinh Thanh & Ha Thi Ngoc Oanh
Bản điện tử: 06 Jan 2021 | DOI:
Tóm tắt
Ở mỗi giai đoạn phát triển kinh tế đều có những mục tiêu, yêu cầu khác nhau nên mỗi nước phải thường xuyên rà soát và điều chỉnh chính sách để môi trường đầu tư trở nên hấp dẫn và tăng khả năng cạnh tranh thu hút vốn FDI. Chẳng hạn,Chính phủ phải rà soát lại những yếu tố cấu thành môi trường đầu tư để đưa ra các biện pháp mới, hoặc sửa đổi các chính sách, quy định có liên quan đến hoạt động của nhà đầu tư nhằm cải thiện môi trường đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của nhà đầu tư và tăng cường sự cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Bài viết chỉ đề cập và phân tích các yếu tố cơbản của môi trường đầu tư, đánh giá trên góc độ tổng hợp những kết quả và hạn chế của môi trường đầu tư thu hút vốn FDI tại TP.HCM. Trên cơ sở đó và bằng các phương pháp nghiên cứu: khảo sát thực tiễn, chuỗi thời gian, so sánh, phân tích, tổng hợp, hệ thống; nhóm tác giả đã đề xuất các giải pháp hoàn thiện hơn môi trường đầu tư nhằm thu hút FDI vào TP.HCM trong thời gian tới.
Sử dụng mô hình kinh tế lượng đánh giá tác động của bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
(trang 16-22)
Le Quoc Hoi
Bản điện tử: 06 Jan 2021 | DOI:
Tóm tắt
Mối quan hệ giữa tăng trưởng và bất bình đẳng đã và đang thu hút sự quan tâm và tranh luận của các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách trên thế giới. Hiểu được tác động của bất bình đẳng đến tăng trưởng và những yếu tố ảnh hưởng đến tác động đó là mấu chốt trong việc thực hiện mục tiêu duy trì tăng trưởng bền vững. Thời gian qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu về tăng trưởng và bất bình đẳng ở VN. Tuy nhiên, chưa có công trình định lượng nào nghiên cứu các kênh qua đó về bất bình đẳng thu nhập tác động đến tăng trưởng kinh tế. Thông qua sử dụng số liệu điều tra mức sống hộ gia đình và số liệu từ 61 tỉnh, thành trong giai đoạn 1998-2006, bài viết này kiểm định và ước lượng tác động của bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng kinh tế ở VN.
Thị trường cá da trơn Đồng bằng Sông Cửu Long, phân tích hành vi người tiêu dùng cá da trơn nội địa
(trang 37-41)
do Van Xe & Chau Thanh Bao
Bản điện tử: 06 Jan 2021 | DOI:
Tóm tắt
Hiện nay, mặt hàng cá tra, cá basa (cá da trơn) của VN được nhiều thị trường quốc tế ưa chuộng và đang giữ vị trí số một trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng thủy sản VN. Trong tám tháng đầu năm 2009, sản lượng xuất khẩu cá da trơn là 264.000 tấn, thu được 600 triệu USD. Trong vòng mười năm (1997 - 2006) diện tích nuôi cá da trơn chỉ tăng 7 lần (từ 1.200 ha lên 9.000 ha) trong khi đó sản lượng tăng 36,2 lần (từ 22.500 tấn lên 825.000 tấn). Theo FAO, tổng sản phẩm cá da trơn toàn cầu năm 1995 là 10.000 tấn, năm 2005 là 440.000 tấn, trong khi đó chỉ riêng VN năm 2007 đạt khoảng 1 triệu tấn cá da trơn. Bên cạnh sự tăng trưởng khá hấp dẫn, thị trường cá da trơn của VN cũng gặp không ít khó khăn khách quan lẫn chủ quan. Trong vòng 9 năm liên tiếp có đến 8 lần giá cá da trơn nguyên liệu biến động, vụ kiện bán phá giá cá da trơn trên thị trường Mỹ vào tháng 12/2002, cá da trơn VN phát hiện bị nhiễm kháng sinh Malachite Green, Fluoroquinolones khi xuất khẩu. Tình trạng này cho thấy mặc dù xuất khẩu cá da trơn mang lại lợi nhuận cao, nhưng không ổn định và đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến người dân vùng ĐBSCL vì đây là nơi chủ yếu cung cấp nguyên liệu thô về cá da trơn. Bên cạnh việc xuất khẩu, thị trường nội địa cũng đóng vai trò rất quan trọng nếu chúng ta biết khai thác thì sẽ góp phần đáng kể, làm giảm sự bấp bênh vừa nêu. Để làm được việc này chúng ta cần phải nghiên cứu hành vi của người tiêu dùng, nhất là về các vấn đề liên quan đến nhu cầu và tiến trình quyết định mua của họ để từ đó tìm ra các biện pháp phù hợp vừa gia tăng thị phần nội địa, giúp thu nhập của người nuôi cá được ổn định hơn vừa giúp cho người dân trong nước có được nguồn thức ăn bổ dưỡng hợp với thu nhập của mình.
Điều chỉnh không gian tài khóa để phát triển bền vững ở Việt Nam
(trang 02-09)
Su dinh Thanh & Bui Thi Mai Hoai
Bản điện tử: 06 Jan 2021 | DOI:
Tóm tắt
VN từ một quốc gia lạc hậu, yếu kém đang chuyển hóa thành quốc gia có nhóm thu nhập trung bình trong xếp hạng của thế giới. Sau cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế, VN cần phải điều chỉnh lại không gian tài khóa để tiếp tục đẩy mạnh chuyển hóa kinh tế và ngăn chặn các cú sốc kinh tế. Bài viết này tập trung nghiên cứu không gian tài khóa như là công cụ được sử dụng để mở rộng khả năng lựa chọn chính sách của chính phủ. Thông qua đánh giá các yếu tố và những thách thức chủyếu của mỗi một yếu tố trong 4 trục chính của mô hình FSD (thu trong nước, nguồn vốn hỗ trợ - ODA,tài trợ thâm hụt, tái lập các ưu tiên và hiệu quả chi tiêu công), chúng ta có một cái nhìn tổng quan về vận hành chính sách tài khóa để thực hiện các mục tiêu vĩ mô chủ yếu của một quốc gia. Qua mô hình này, chúng ta cũng có thể xác định bản chất nội sinh và ngoại sinh của những lựa chọn khác nhau trong không gian tài khóa để rút ra những kết luận cuối cùng về chính sách.
|
|