2025
Năm thứ. 36(12), Tháng 12/2025
Năm thứ. 36(11), Tháng 11/2025
Năm thứ. 36(10), Tháng 10/2025
Năm thứ. 36(9), Tháng 9/2025
Năm thứ. 36(8), Tháng 8/2025
Năm thứ. 36(7), Tháng 7/2025
Năm thứ. 36(6), Tháng 6/2025
Năm thứ. 36(5), Tháng 5/2025
Năm thứ. 36(4), Tháng 4/2025
Năm thứ. 36(3), Tháng 3/2025
Năm thứ. 36(2), Tháng 2/2025
Năm thứ. 36(1), Tháng 1/2025
2024
Năm thứ. 35(12), Tháng 12/2024
Năm thứ. 35(11), Tháng 11/2024
Năm thứ. 35(10), Tháng 10/2024
Năm thứ. 35(9), Tháng 9/2024
Năm thứ. 35(8), Tháng 8/2024
Năm thứ. 35(7), Tháng 7/2024
Năm thứ. 35(6), Tháng 6/2024
Năm thứ. 35(5), Tháng 5/2024
Năm thứ. 35(4), Tháng 4/2024
Năm thứ. 35(3), Tháng 3/2024
Năm thứ. 35(2), Tháng 2/2024
Năm thứ. 35(1), Tháng 1/2024
2023
Năm thứ. 34(12), Tháng 12/2023
Năm thứ. 34(11), Tháng 11/2023
Năm thứ. 34(10), Tháng 10/2023
Năm thứ. 34(9), Tháng 9/2023
Năm thứ. 34(8), Tháng 8/2023
Năm thứ. 34(7), Tháng 7/2023
Năm thứ. 34(6), Tháng 6/2023
Năm thứ. 34(5), Tháng 5/2023
Năm thứ. 34(4), Tháng 4/2023
Năm thứ. 34(3), Tháng 3/2023
Năm thứ. 34(2), Tháng 2/2023
Năm thứ. 34(1), Tháng 1/2023
2022
Năm thứ. 33(12), Tháng 12/2022
Năm thứ. 33(11), Tháng 11/2022
Năm thứ. 33(10), Tháng 10/2022
Năm thứ. 33(9), Tháng 9/2022
Năm thứ. 33(8), Tháng 8/2022
Năm thứ. 33(7), Tháng 7/2022
Năm thứ. 33(6), Tháng 6/2022
Năm thứ. 33(5), Tháng 5/2022
Năm thứ. 33(4), Tháng 4/2022
Năm thứ. 33(3), Tháng 3/2022
Năm thứ. 33(2), Tháng 2/2022
Năm thứ. 33(1), Tháng 1/2022
2021
Năm thứ. 32(12), Tháng 12/2021
Năm thứ. 32(11), Tháng 11/2021
Năm thứ. 32(10), Tháng 10/2021
Năm thứ. 32(9), Tháng 9/2021
Năm thứ. 32(8), Tháng 8/2021
Năm thứ. 32(7), Tháng 7/2021
Năm thứ. 32(6), Tháng 6/2021
Năm thứ. 32(5), Tháng 5/2021
Năm thứ. 32(4), Tháng 4/2021
Năm thứ. 32(3), Tháng 3/2021
Năm thứ. 32(2), Tháng 2/2021
Năm thứ. 32(1), Tháng 1/2021
2020
Năm thứ. 31(12), Tháng 12/2020
Năm thứ. 31(11), Tháng 11/2020
Năm thứ. 31(10), Tháng 10/2020
Năm thứ. 31(9), Tháng 9/2020
Năm thứ. 31(8), Tháng 8/2020
Năm thứ. 31(7), Tháng 7/2020
Năm thứ. 31(6), Tháng 6/2020
Năm thứ. 31(5), Tháng 5/2020
Năm thứ. 31(4), Tháng 4/2020
Năm thứ. 31(3), Tháng 3/2020
Năm thứ. 31(2), Tháng 2/2020
Năm thứ. 31(1), Tháng 1/2020
2019
Năm thứ. 30(12), Tháng 12/2019
Năm thứ. 30(11), Tháng 11/2019
Năm thứ. 30(10), Tháng 10/2019
Năm thứ. 30(9), Tháng 9/2019
Năm thứ. 30(8), Tháng 8/2019
Năm thứ. 30(7), Tháng 7/2019
Năm thứ. 30(6), Tháng 6/2019
Năm thứ. 30(5), Tháng 5/2019
Năm thứ. 30(4), Tháng 4/2019
Năm thứ. 30(3), Tháng 3/2019
Năm thứ. 30(2), Tháng 2/2019
Năm thứ. 30(1), Tháng 1/2019
2018
Năm thứ. 29(12), Tháng 12/2018
Năm thứ. 29(11), Tháng 11/2018
Năm thứ. 29(10), Tháng 10/2018
Năm thứ. 29(9), Tháng 9/2018
Năm thứ. 29(8), Tháng 8/2018
Năm thứ. 29(7), Tháng 7/2018
Năm thứ. 29(6), Tháng 6/2018
Năm thứ. 29(5), Tháng 5/2018
Năm thứ. 29(4), Tháng 4/2018
Năm thứ. 29(3), Tháng 3/2018
Năm thứ. 29(2), Tháng 2/2018
Năm thứ. 29(1), Tháng 1/2018
2017
Năm thứ. 28(12), Tháng 12/2017
Năm thứ. 28(11), Tháng 11/2017
Năm thứ. 28(10), Tháng 10/2017
Năm thứ. 28(9), Tháng 9/2017
Năm thứ. 28(8), Tháng 8/2017
Năm thứ. 28(7), Tháng 7/2017
Năm thứ. 28(6), Tháng 6/2017
Năm thứ. 28(5), Tháng 5/2017
Năm thứ. 28(4), Tháng 4/2017
Năm thứ. 28(3), Tháng 3/2017
Năm thứ. 28(2), Tháng 2/2017
Năm thứ. 28(1), Tháng 1/2017
2016
Năm thứ. 27(12), Tháng 12/2016
Năm thứ. 27(11), Tháng 11/2016
Năm thứ. 27(10), Tháng 10/2016
Năm thứ. 27(9), Tháng 9/2016
Năm thứ. 27(8), Tháng 8/2016
Năm thứ. 27(7), Tháng 7/2016
Năm thứ. 27(6), Tháng 6/2016
Năm thứ. 27(5), Tháng 5/2016
Năm thứ. 27(4), Tháng 4/2016
Năm thứ. 27(3), Tháng 3/2016
Năm thứ. 27(2), Tháng 2/2016
Năm thứ. 27(1), Tháng 1/2016
2015
Năm thứ. 26(12), Tháng 12/2015
Năm thứ. 26(11), Tháng 11/2015
Năm thứ. 26(10), Tháng 10/2015
Năm thứ. 26(9), Tháng 9/2015
Năm thứ. 26(8), Tháng 8/2015
Năm thứ. 26(7), Tháng 7/2015
Năm thứ. 26(6), Tháng 6/2015
Năm thứ. 26(5), Tháng 5/2015
Năm thứ. 26(4), Tháng 4/2015
Năm thứ. 26(3), Tháng 3/2015
Năm thứ. 26(2), Tháng 2/2015
Năm thứ. 26(1), Tháng 1/2015
2014
Số 290, Tháng 12/2014
Số 289, Tháng 11/2014
Số 288, Tháng 10/2014
Số 287, Tháng 9/2014
Số 286, Tháng 8/2014
Số 285, Tháng 7/2014
Số 284, Tháng 6/2014
Số 284DS, Tháng 6/2014
Số 283, Tháng 5/2014
Số 282, Tháng 4/2014
Số 281, Tháng 3/2014
Số 280, Tháng 2/2014
Số 279, Tháng 1/2014
2013
Số 278, Tháng 12/2013
Số 277, Tháng 11/2013
Số 276, Tháng 10/2013
Số 276DS, Tháng 10/2013
Số 275, Tháng 9/2013
Số 274, Tháng 8/2013
Số 273, Tháng 7/2013
Số 272, Tháng 6/2013
Số 271, Tháng 5/2013
Số 270, Tháng 4/2013
Số 269, Tháng 3/2013
Số 268, Tháng 2/2013
Số 267, Tháng 1/2013
2012
Số 266, Tháng 12/2012
Số 265, Tháng 11/2012
Số 264, Tháng 10/2012
Số 263, Tháng 9/2012
Số 262, Tháng 8/2012
Số 261, Tháng 7/2012
Số 260, Tháng 6/2012
Số 259, Tháng 5/2012
Số 258, Tháng 4/2012
Số 257, Tháng 3/2012
Số 256, Tháng 2/2012
Số 255, Tháng 1/2012
2011
Số 254, Tháng 12/2011
Số 253, Tháng 11/2011
Số 252, Tháng 10/2011
Số 251, Tháng 9/2011
Số 250, Tháng 8/2011
Số 249, Tháng 7/2011
Số 248, Tháng 6/2011
Số 247, Tháng 5/2011
Số 246, Tháng 4/2011
Số 245, Tháng 3/2011
Số 244, Tháng 2/2011
Số 243, Tháng 1/2011
2010
Số 242, Tháng 12/2010
Số 241, Tháng 11/2010
Số 240, Tháng 10/2010
Số 239, Tháng 9/2010
Số 238, Tháng 8/2010
Số 237, Tháng 7/2010
Số 236, Tháng 6/2010
Số 235, Tháng 5/2010
Số 234, Tháng 4/2010
Số 233, Tháng 3/2010
Số 232, Tháng 2/2010
Số 231, Tháng 1/2010
2009
Số 230, Tháng 12/2009
Số 229, Tháng 11/2009
Số 228, Tháng 10/2009
Số 227, Tháng 9/2009
Số 226, Tháng 8/2009
Số 225, Tháng 7/2009
Số 224, Tháng 6/2009
Số 223, Tháng 5/2009
Số 222, Tháng 4/2009
Số 221, Tháng 3/2009
Số 220, Tháng 2/2009
Số 219, Tháng 1/2009
2008
Số 218, Tháng 12/2008
Số 217, Tháng 11/2008
Số 216, Tháng 10/2008
Số 215, Tháng 9/2008
Số 214, Tháng 8/2008
Số 213, Tháng 7/2008
Số 212, Tháng 6/2008
Số 211, Tháng 5/2008
Số 210, Tháng 4/2008
Số 209, Tháng 3/2008
Số 208, Tháng 2/2008
Số 207, Tháng 1/2008
2007
Số 206, Tháng 12/2007
Số 205, Tháng 11/2007
Số 204, Tháng 10/2007
Số 203, Tháng 9/2007
Số 202, Tháng 8/2007
Số 201, Tháng 7/2007
Số 200, Tháng 6/2007
Số 199, Tháng 5/2007
Số 198, Tháng 4/2007
Số 197, Tháng 3/2007
Số 196, Tháng 2/2007
Số 195, Tháng 1/2007
2006
Số 194, Tháng 12/2006
Số 193, Tháng 11/2006
Số 192, Tháng 10/2006
Số 191, Tháng 9/2006
Số 190, Tháng 8/2006
Số 189, Tháng 7/2006
Số 188, Tháng 6/2006
Số 187, Tháng 5/2006
Số 186, Tháng 4/2006
Số 185, Tháng 3/2006
Số 184, Tháng 2/2006
Số 183, Tháng 1/2006
2005
Số 182, Tháng 12/2005
Số 181, Tháng 11/2005
Số 180, Tháng 10/2005
Số 179, Tháng 9/2005
Số 178, Tháng 8/2005
Số 177, Tháng 7/2005
Số 176, Tháng 6/2005
Số 175, Tháng 5/2005
Số 174, Tháng 4/2005
Số 173, Tháng 3/2005
Số 172, Tháng 2/2005
Số 171, Tháng 1/2005
2004
Số 170, Tháng 12/2004
Số 169, Tháng 11/2004
Số 168, Tháng 10/2004
Số 167, Tháng 9/2004
Số 166, Tháng 8/2004
Số 165, Tháng 7/2004
Số 164, Tháng 6/2004
Số 163, Tháng 5/2004
Số 162, Tháng 4/2004
Số 161, Tháng 3/2004
Số 160, Tháng 2/2004
Số 159, Tháng 1/2004
2003
Số 158, Tháng 12/2003
Số 157, Tháng 11/2003
Số 156, Tháng 10/2003
Số 155, Tháng 9/2003
Số 154, Tháng 8/2003
Số 153, Tháng 7/2003
Số 152, Tháng 6/2003
Số 151, Tháng 5/2003
Số 150, Tháng 4/2003
Số 149, Tháng 3/2003
Số 148, Tháng 2/2003
Số 147, Tháng 1/2003
2002
Số 146, Tháng 12/2002
Số 145, Tháng 11/2002
Số 144, Tháng 10/2002
Số 143, Tháng 9/2002
Số 142, Tháng 8/2002
Số 141, Tháng 7/2002
Số 140, Tháng 6/2002
Số 139, Tháng 5/2002
Số 138, Tháng 4/2002
Số 137, Tháng 3/2002
Số 136, Tháng 2/2002
Số 135, Tháng 1/2002
2001
Số 134, Tháng 12/2001
Số 133, Tháng 11/2001
Số 132, Tháng 10/2001
Số 131, Tháng 9/2001
Số 130, Tháng 8/2001
Số 129, Tháng 7/2001
Số 128, Tháng 6/2001
Số 127, Tháng 5/2001
Số 126, Tháng 4/2001
Số 125, Tháng 3/2001
Số 124, Tháng 2/2001
Số 123, Tháng 1/2001
2000
Số 122, Tháng 12/2000
Số 121, Tháng 11/2000
Số 120, Tháng 10/2000
Số 119, Tháng 9/2000
Số 118, Tháng 8/2000
Số 117, Tháng 7/2000
Số 116, Tháng 6/2000
Số 115, Tháng 5/2000
Số 114, Tháng 4/2000
Số 113, Tháng 3/2000
Số 112, Tháng 2/2000
Số 111, Tháng 1/2000
1999
Số 110, Tháng 12/1999
Số 109, Tháng 11/1999
Số 108, Tháng 10/1999
Số 107, Tháng 9/1999
Số 106, Tháng 8/1999
Số 105, Tháng 7/1999
Số 104, Tháng 6/1999
Số 103, Tháng 5/1999
Số 102, Tháng 4/1999
Số 101, Tháng 3/1999
Số 100, Tháng 2/1999
Số 99, Tháng 1/1999
1998
Số 98, Tháng 12/1998
Số 97, Tháng 11/1998
Số 96, Tháng 10/1998
Số 95, Tháng 9/1998
Số 94, Tháng 8/1998
Số 93, Tháng 7/1998
Số 92, Tháng 6/1998
Số 91, Tháng 5/1998
Số 90, Tháng 4/1998
Số 89, Tháng 3/1998
Số 88, Tháng 2/1998
Số 87, Tháng 1/1998
1997
Số 86, Tháng 12/1997
Số 85, Tháng 11/1997
Số 84, Tháng 10/1997
Số 83, Tháng 9/1997
Số 82, Tháng 8/1997
Số 81, Tháng 7/1997
Số 80, Tháng 6/1997
Số 79, Tháng 5/1997
Số 78, Tháng 4/1997
Số 77, Tháng 3/1997
Số 76, Tháng 2/1997
Số 75, Tháng 1/1997
1996
Số 74, Tháng 12/1996
Số 73, Tháng 11/1996
Số 72, Tháng 10/1996
Số 71, Tháng 9/1996
Số 70, Tháng 8/1996
Số 69, Tháng 7/1996
Số 68, Tháng 6/1996
Số 67, Tháng 5/1996
Số 66, Tháng 4/1996
Số 65, Tháng 3/1996
Số 64, Tháng 2/1996
Số 63, Tháng 1/1996
1995
Số 62, Tháng 12/1995
Số 61, Tháng 11/1995
Số 60, Tháng 10/1995
Số 59, Tháng 9/1995
Số 58, Tháng 8/1995
Số 57, Tháng 7/1995
Số 56, Tháng 6/1995
Số 55, Tháng 5/1995
Số 54, Tháng 4/1995
Số 53, Tháng 3/1995
Số 52, Tháng 2/1995
Số 51, Tháng 1/1995
1994
Số 50, Tháng 12/1994
Số 49, Tháng 11/1994
Số 48, Tháng 10/1994
Số 47, Tháng 9/1994
Số 46, Tháng 8/1994
Số 45, Tháng 7/1994
Số 44, Tháng 6/1994
Số 43, Tháng 5/1994
Số 42, Tháng 4/1994
Số 41, Tháng 3/1994
Số 40, Tháng 2/1994
Số 39, Tháng 1/1994
1993
Số 38, Tháng 12/1993
Số 37, Tháng 11/1993
Số 36, Tháng 10/1993
Số 35, Tháng 9/1993
Số 34, Tháng 8/1993
Số 33, Tháng 7/1993
Số 32, Tháng 6/1993
Số 31, Tháng 5/1993
Số 30, Tháng 4/1993
Số 29, Tháng 3/1993
Số 28, Tháng 2/1993
Số 27, Tháng 1/1993
1992
Số 26, Tháng 12/1992
Số 25, Tháng 11/1992
Số 24, Tháng 10/1992
Số 23, Tháng 9/1992
Số 22, Tháng 8/1992
Số 21, Tháng 7/1992
Số 20, Tháng 6/1992
Số 19, Tháng 5/1992
Số 18, Tháng 4/1992
Số 17 (Số tháng 2-3), Tháng 3/1992
Số 16, Tháng 1/1992
1991
Số 15, Tháng 12/1991
Số 14, Tháng 11/1991
Số 13, Tháng 10/1991
Số 12, Tháng 9/1991
Số 11, Tháng 8/1991
Số 10 (Tháng 6-7), Tháng 7/1991
Số 9, Tháng 5/1991
Số 8, Tháng 4/1991
Số 7, Tháng 2/1991
Số 6, Tháng 1/1991
1990
Mở rộng
|
| Năm thứ. 36(9) , Tháng 9/2025 |
|
|
| |
Ảnh hưởng của siêu cá nhân hóa và tích hợp kênh đến ý định tiếp tục sử dụng hợp kênh trong lựa chọn khách sạn: vai trò điều tiết của danh tính di động
(trang 118-133)
Trần Xuân Quỳnh & Nguyễn Thị Thanh Mai
Bản điện tử: 06 Jan 2026 | DOI: 10.24311/jabes/2025.36.9.04
Tóm tắt
Nghiên cứu này nhằm mục đích phân tích tác động của siêu cá nhân hóa và tích hợp kênh đến sự hài lòng, thói quen sử dụng và ý định tiếp tục sử dụng hợp kênh trong lựa chọn khách sạn tại Việt Nam, đồng thời khám phá vai trò điều tiết của danh tính di động. Dữ liệu được thu thập từ một khảo sát trực tuyến với 401 người dùng đã từng trải nghiệm hợp kênh khi lựa chọn khách sạn trong thời gian gần đây. Kết quả cho thấy, siêu cá nhân hóa và tích hợp kênh đều ảnh hưởng tích cực đến sự hài lòng hợp kênh và thói quen sử dụng, hai nhân tố sau đó sau đó tiếp tục tác động đến ý định tiếp tục sử dụng. Danh tính di động được tìm thấy có ảnh hưởng điều tiết ý nghĩa lên sự hài lòng hợp kênh. Nghiên cứu này đồng thời cung cấp một số hàm ý thiết thực cho các khách sạn tại Việt Nam trong việc xây dựng chiến lược tiếp cận khách hàng qua hợp kênh và cá nhân hóa kênh tiếp thị.
<br><br>Abstract <br>
This study aims to analyze the impact of hyper-personalization and channel integration on omni-channel satisfaction, usage habit, and the intention to continue using omni-channel hotel booking in Vietnam, while also exploring the moderating role of mobile identity. Data were collected through an online survey of 401 users who had recently experienced omni-channel hotel booking. The results reveal that hyper-personalization and channel integration both have a positive effect on omni-channel satisfaction and usage habit, which in turn influence the intention to continue using. Mobile identity was found to have a significant moderating effect on omni-channel satisfaction. The study also offers several practical implications for hotels in Vietnam in developing omni-channel customer engagement strategies and personalized marketing approaches.
Bất định chính sách kinh tế Việt Nam và đầu tư doanh nghiệp
(trang 87-103)
Dương Thị Thùy An
Bản điện tử: 06 Jan 2026 | DOI: 10.24311/jabes/2025.36.9.07
Tóm tắt
Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu và môi trường chính sách trong nước nhiều biến động, nghiên cứu này phân tích tác động của bất định chính sách kinh tế đến đầu tư tài sản cố định của doanh nghiệp. Nghiên cứu sử dụng bộ chỉ số bất định chính sách kinh tế do Hoang và cộng sự (2025) xây dựng riêng cho Việt Nam bao gồm bất định chính sách tiền tệ, bất định chính sách tài khóa và bất định chính sách thương mại, kết hợp với dữ liệu tài chính của 1.373 doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2016–2023. Kết quả cho thấy bất định chính sách kinh tế có tác động tiêu cực rõ rệt đến đầu tư doanh nghiệp, đặc biệt là từ bất định chính sách tiền tệ và tài khóa. Tác động này vẫn duy trì ngay cả với các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả. Ngoài ra, cấu trúc sở hữu doanh nghiệp đóng vai trò điều tiết quan trọng: doanh nghiệp tư nhân phản ứng mạnh hơn trong khi doanh nghiệp nhà nước ít nhạy hơn với sự thay đổi trong bất định chính sách kinh tế, doanh nghiệp nước ngoài không có phản ứng rõ rệt. Các phát hiện mang lại hàm ý chính sách quan trọng cho Nhà nước, nhà đầu tư và khu vực doanh nghiệp trong việc ứng phó với rủi ro vĩ mô.
<br><br>Abstract<br>
In the context of increasing global and domestic policy and macroeconomic uncertainty, this study examines the impact of economic policy uncertainty on firms’ capital expenditure (fixed asset investment) decisions. This paper employs the Vietnam-specific economic policy uncertainty indices developed by Hoang et al. (2025), which disaggregate uncertainty into monetary, fiscal, and trade components. Using financial data from 1,373 Vietnamese firms during 2016–2023 and a multi-way fixed effects model, this paper finds that economic policy uncertainty negatively affects capital expenditures, with fiscal and monetary policy uncertainty exerting the strongest effects. Importantly, this negative relationship persists even among high-performing firms, suggesting that uncertainty weakens investment incentives regardless of operational efficiency. Ownership structure plays a moderating role: Privately owned enterprises are more sensitive to economic policy uncertainty than their state-owned counterparts, while foreign-owned enterprises exhibit no significant response. These findings offer important policy implications for policymakers, investors, and firms in coping with macroeconomic risks
Tác động của phát trực tiếp trên TikTok đến mua sắm ngẫu hứng thông qua sự hứng khởi
(trang 70-86)
Kiều Anh Tài & Lý Phước Sang
Bản điện tử: 06 Jan 2026 | DOI: 10.24311/jabes/2025.36.9.06
Tóm tắt
Nghiên cứu này đánh giá sự ảnh hưởng đồng thời các khía cạnh trong thương mại phát trực tiếp (TMPTT) gồm đặc điểm người dẫn, đặc điểm môi trường, và nội dung phát trực tiếp (PTT), cũng như vai trò điều tiết của nỗi sợ bỏ lỡ lên mối quan hệ giữa sự hứng khởi và mua sắm ngẫu hứng. Nghiên cứu thực hiện khảo sát với người dùng TikTok tại Việt Nam có mua sắm ngẫu hứng trong các buổi PTT và có 338 trả lời hợp lệ được dùng để kiểm định mô hình theo phương pháp cấu trúc tuyến tính bình phương từng phần nhỏ nhất. Kết quả cho thấy các đặc điểm môi trường PTT và nội dung PTT có sự ảnh hưởng đến sự hứng khởi, từ đó thúc đẩy mua sắm ngẫu hứng. Ngược lại, sự hấp dẫn và sự đáng tin cậy của người dẫn PTT không có sự tác động đến sự hứng khởi, cũng như nỗi sợ bỏ lỡ không thể phát huy vai trò điều tiết. Nghiên cứu không chỉ góp phần mở rộng lý luận về hành vi người tiêu dùng trong TMPTT mà còn cung cấp một số hàm ý quản trị cho người làm marketing số, người bán hàng qua TMPTT và nhà quản lý nền tảng thương mại điện tử.
<br><br>Abstract<br>
This study simultaneously investigates important stimuli aspects such as livestreamer, livestream environment, and livestream content factors that drive arousal and impulsive purchase. The study also examines the moderating role of fear of missing out on the relationship between arousal and impulsive purchase. The study conducted a survey of TikTok users in Vietnam having made impulsive purchases in livestream sessions, yielding 338 valid responses used to test the research model using partial least squares structural equation modeling. Findings show that livestream environment and content factors significantly enhance viewers’ arousal, which in turn stimulates impulsive purchase. However, streamer attractiveness and credibility do not have a significant effect on viewers’ arousal; nor does the moderating impact of fear of missing out on the relationship between arousal and impulsive purchase. This study not only enriches consumer behavior literature in the livestream commerce context but also provides practical implications for digital marketers, livestream sellers, and platform administrators
Nghiên cứu phân tích các tài sản trú ẩn an toàn đối với thị trường cổ phiếu Việt Nam
(trang 52-69)
Đặng Phong Nguyên & Đặng Thị Việt Đức & Linh Do
Bản điện tử: 06 Jan 2026 | DOI: 10.24311/jabes/2025.36.9.05
Tóm tắt
Nghiên cứu phân tích đặc tính trú ẩn an toàn với một số tài sản tài chính điển hình đối với thị trường cổ phiếu Việt Nam trong giai đoạn 2020–2025, trên 2 giai đoạn chính là đại dịch COVID-19 và giao tranh quốc tế. Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy OLS với gần 1.400 quan sát biến động của 04 nhóm tài sản hàng hóa, trái phiếu chính phủ, ngoại tệ, và tiền mã hóa trong giai đoạn thị trường Việt Nam suy giảm mạnh. Kết quả cho thấy, tại một thị trường cận biên như Việt Nam, vàng không thể hiện đặc tính trú ẩn an toàn. Trái phiếu chỉnh phủ và đồng USD thể hiện rõ ràng đặc tính trú ẩn an toàn với thị trường cổ phiếu Việt Nam. Đa phần các nhóm tài sản còn lại không thể hiện đặc tính trú ẩn an toàn, chỉ có thể đóng vai trò phòng ngừa rủi ro yếu.
<br><br>Abstract <br>
This study investigates the safe haven properties of several typical financial assets against the Vietnamese stock market during the 2020–2025 period, examining two distinct sub-periods: the COVID-19 pandemic and the periods of global geopolitical tensions. Using an OLS regression model with nearly 1,400 observations, the authors analyze fluctuations across four asset classes: Commodities, government bonds, foreign currencies, and cryptocurrencies, during periods of sharp declines in the Vietnamese market. The findings indicate that in a frontier market such as Vietnam, gold does not exhibit safe haven characteristics. Conversely, government bonds and the USD demonstrate strong safe-haven properties against the Vietnamese stock market. Most of the remaining assets fail to provide safe havens, acting only as weak hedges
Tác động AI đến hiệu suất bền vững: vai trò trung gian của đổi mới sáng tạo xanh và hiệu suất bền vững tại các doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo ở Việt Nam
(trang 36-51)
Đinh Hương
Bản điện tử: 06 Jan 2026 | DOI: 10.24311/jabes/2025.36.9.03
Tóm tắt
Mục đích của nghiên cứu nhằm phân tích tác động của trí tuệ nhân tạo (AI) đến hiệu suất bền vững thông qua vai trò của năng lực động xanh và đổi mới sáng tạo xanh. Kết quả phân tích PLS-SEM dựa trên dữ liệu khảo sát từ 682 nhà quản lý của các doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo chỉ ra rằng AI tác động tích cực đến hiệu suất bền vững với vai trò trung gian của năng lực động xanh và đổi mới sáng tạo xanh. Từ những phát hiện trên, nghiên cứu đóng góp mới về lý luận và thực tiễn khi nghiên cứu mối quan hệ giữa AI, đổi mới sáng tạo xanh, năng lực động xanh và hiệu suất bền vững. Các hàm ý quản trị được đề xuất để làm cơ sở nâng cao hiệu suất bền vững của các doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo trong thời gian tới.
<br><br>Abstract<br>
The objective of this research is to examine the influence of artificial intelligence on sustainable performance, specifically through the lens of green dynamic capabilities and green innovation. The findings derived from PLS-SEM analysis, which utilized survey data from 682 managers within manufacturing firms, indicate that AI positively impacts sustainable performance, with green dynamic capabilities and green innovation acting as mediators. Based on these results, this study offers novel theoretical and practical insights into the interplay among artificial intelligence, green innovation, green dynamic capabilities, and sustainable performance. Furthermore, management implications are proposed to provide a foundation for enhancing the sustainable performance of manufacturing enterprises in the near future.
Tác động của bất ổn năng lượng tới ô nhiễm không khí: Bằng chứng quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam
(trang 20-35)
Le Hai Trung
Bản điện tử: 06 Jan 2026 | DOI: 10.24311/jabes/2025.36.9.02
Tóm tắt
Nghiên cứu này đánh giá tác động của bất ổn năng lượng tới ô nhiễm không khí trong ngắn hạn và dài hạn. Sử dụng chỉ số bất ổn năng lượng (Energy-related Uncertainty Index ‒ EUI) được phát triển bởi Dang và cộng sự (2023) để đánh giá chuyên biệt những bất ổn xuất phát từ thị trường năng lượng, nghiên cứu làm rõ tác động không đồng nhất theo thời gian của EUI tới phát thải CO2. Sử dụng dữ liệu bảng của 27 quốc gia trong giai đoạn 2000–2023, kết quả định lượng cho thấy bất ổn năng lượng làm gia tăng phát thải CO2 trong ngắn hạn, nhưng làm giảm trong dài hạn. Điều này có thể bắt nguồn từ sự thay đổi trong hành vi sử dụng năng lượng của dân cư, doanh nghiệp, hoặc từ hệ quả suy giảm tiêu dùng và đầu tư do lo ngại rủi ro năng lượng. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số khuyến nghị chính sách đối với ổn định thị trường năng lượng và cơ cấu năng lượng quốc gia.
<br><br>Abstract <br>
This study evaluates the impact of energy-related uncertainty on air pollution in both the short run and the long run. Utilizing the newly developed energy-related uncertainty index (EUI) of Dang et al. (2023), which specializes in capturing uncertainties arising from the energy market, this study explores the time-varying impacts of EUI on CO2 emissions in the short and the long run. In particular, our empirical analysis with a panel dataset spanning 27 countries from 2000 to 2023 reveals that energy-related uncertainty exacerbates air pollution in the short run but mitigates CO₂ emissions in the long run. This pattern may arise from shifts in energy consumption behaviors among households and firms, or represent an unintended consequence of reduced consumption and investment stemming from concerns over risks in the energy market. Building on these insights, the authors propose several policy recommendations aimed at stabilizing the energy market and enhancing the national energy structure
Đánh giá năng suất và hiệu quả ngành bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam sử dụng chỉ số Färe-Primont
(trang 04-19)
Nguyen Phuong Anh & Hoàng Thị Lan Anh
Bản điện tử: 06 Jan 2026 | DOI: 10.24311/jabes/2025.36.9.01
Tóm tắt
Ngành bảo hiểm giữ vai trò thiết yếu trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đảm bảo ổn định tài chính và phân bổ rủi ro hiệu quả. Nghiên cứu này phân tích năng suất và hiệu quả của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam trong giai đoạn 2019–2021, sử dụng chỉ số năng suất Färe-Primont. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các công ty bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam có hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả hỗn hợp duy trì ở mức cao, trong khi hiệu quả tổng thể và hiệu quả quy mô tương đối thấp. Trong giai đoạn 2019–2021, mặc dù tiến bộ công nghệ ngành bảo hiểm suy giảm, năng suất tổng thể và hiệu quả hoạt động của ngành đã ghi nhận sự tăng nhẹ nhờ vào cải thiện hiệu quả quy mô. Để nâng cao năng suất và hiệu quả tổng thể, các công ty bảo hiểm phi nhân thọ cần ưu tiên các giải pháp nhằm tối ưu hóa hiệu quả quy mô và tăng tiến bộ công nghệ.
<br><br>Abstract <br>
The insurance industry plays a vital role in promoting economic growth, ensuring financial stability, and efficiently allocating risks. This study analyzes the productivity and efficiency of non-life insurance companies in Vietnam during the period 2019–2021, employing the Färe-Primont productivity index. The findings indicate that Vietnam’s non-life insurance companies maintain high technical and mix efficiencies, while overall and scale efficiencies remain relatively low. Over the period 2019–2021, despite a decline in technological progress in the industry, overall productivity and operational efficiency recorded slight improvements, driven by enhanced scale efficiency. To boost productivity and overall efficiency, non-life insurance companies should prioritize solutions to optimize scale efficiency and accelerate technological progress.
Chỉ số lưu động hướng lên và sự khác biệt giữa các nhóm dân cư ở Việt Nam
(trang 104-117)
Phạm Thị Bích Ngọc
Bản điện tử: 06 Jan 2026 | DOI: 10.24311/jabes/2025.36.9.08
Tóm tắt
Trong hơn hai thập kỷ qua, Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế ấn tượng, song liệu thành quả ấy có thực sự mở rộng cơ hội cho mọi nhóm dân cư vẫn còn bỏ ngỏ. Nghiên cứu này trả lời cho câu hỏi đó bằng cách đo lường chỉ số lưu động hướng lên của các nhóm dân cư giai đoạn 2002–2020, dựa trên dữ liệu VHLSS và phương pháp của Ray và Genicot (2023). Kết quả cho thấy nhóm hộ người Kinh có chỉ số lưu động hướng lên cao hơn, trong khi nhóm dân tộc thiểu số lại đóng góp tỷ trọng lớn hơn vào chỉ số lưu động hướng lên toàn quốc. Khu vực nông thôn có chỉ số lưu động cao hơn khu vực thành thị, cho thấy hiệu quả của chính sách phát triển nông thôn. Bên cạnh đó, bất bình đẳng giữa các nhóm giảm dần, phản ánh khoảng cách cơ hội đang thu hẹp – tín hiệu tích cực về tính bao trùm của tăng trưởng. Những kết quả này nhấn mạnh tầm quan trọng của các chính sách tăng cường tiếp cận giáo dục, hạ tầng và việc làm, đặc biệt cho nhóm dân tộc thiểu số và khu vực nông thôn, nhằm duy trì lưu động hướng lên và củng cố phát triển bao trùm bền vững.
<br><br>Abstract<br>
Over the past two decades, Vietnam has achieved remarkable economic growth, yet whether this growth has truly expanded opportunities for all groups remains an open question. This study addresses this question measuring the upward mobility index of population groups during 2002–2020, using data from the Vietnam Household Living Standards Survey (VHLSS) and the method proposed by Ray and Genicot (2023). The results show that while Kinh households exhibit a higher level of upward mobility, ethnic minority households contribute a larger proportion to the overall national upward mobility index. Rural areas also display higher mobility than urban ones, reflecting the effectiveness of rural development policies. Moreover, inter-group inequality has gradually declined, indicating a narrowing of the opportunity gap – an encouraging sign of inclusive growth. These findings underscore the importance of policies that enhance access to education, infrastructure, and employment, particularly for ethnic minorities and rural communities, to sustain upward mobility and strengthen inclusive and sustainable development.
|
|