2025
Năm thứ. 36(12), Tháng 12/2025
Năm thứ. 36(11), Tháng 11/2025
Năm thứ. 36(10), Tháng 10/2025
Năm thứ. 36(9), Tháng 9/2025
Năm thứ. 36(8), Tháng 8/2025
Năm thứ. 36(7), Tháng 7/2025
Năm thứ. 36(6), Tháng 6/2025
Năm thứ. 36(5), Tháng 5/2025
Năm thứ. 36(4), Tháng 4/2025
Năm thứ. 36(3), Tháng 3/2025
Năm thứ. 36(2), Tháng 2/2025
Năm thứ. 36(1), Tháng 1/2025
2024
Năm thứ. 35(12), Tháng 12/2024
Năm thứ. 35(11), Tháng 11/2024
Năm thứ. 35(10), Tháng 10/2024
Năm thứ. 35(9), Tháng 9/2024
Năm thứ. 35(8), Tháng 8/2024
Năm thứ. 35(7), Tháng 7/2024
Năm thứ. 35(6), Tháng 6/2024
Năm thứ. 35(5), Tháng 5/2024
Năm thứ. 35(4), Tháng 4/2024
Năm thứ. 35(3), Tháng 3/2024
Năm thứ. 35(2), Tháng 2/2024
Năm thứ. 35(1), Tháng 1/2024
2023
Năm thứ. 34(12), Tháng 12/2023
Năm thứ. 34(11), Tháng 11/2023
Năm thứ. 34(10), Tháng 10/2023
Năm thứ. 34(9), Tháng 9/2023
Năm thứ. 34(8), Tháng 8/2023
Năm thứ. 34(7), Tháng 7/2023
Năm thứ. 34(6), Tháng 6/2023
Năm thứ. 34(5), Tháng 5/2023
Năm thứ. 34(4), Tháng 4/2023
Năm thứ. 34(3), Tháng 3/2023
Năm thứ. 34(2), Tháng 2/2023
Năm thứ. 34(1), Tháng 1/2023
2022
Năm thứ. 33(12), Tháng 12/2022
Năm thứ. 33(11), Tháng 11/2022
Năm thứ. 33(10), Tháng 10/2022
Năm thứ. 33(9), Tháng 9/2022
Năm thứ. 33(8), Tháng 8/2022
Năm thứ. 33(7), Tháng 7/2022
Năm thứ. 33(6), Tháng 6/2022
Năm thứ. 33(5), Tháng 5/2022
Năm thứ. 33(4), Tháng 4/2022
Năm thứ. 33(3), Tháng 3/2022
Năm thứ. 33(2), Tháng 2/2022
Năm thứ. 33(1), Tháng 1/2022
2021
Năm thứ. 32(12), Tháng 12/2021
Năm thứ. 32(11), Tháng 11/2021
Năm thứ. 32(10), Tháng 10/2021
Năm thứ. 32(9), Tháng 9/2021
Năm thứ. 32(8), Tháng 8/2021
Năm thứ. 32(7), Tháng 7/2021
Năm thứ. 32(6), Tháng 6/2021
Năm thứ. 32(5), Tháng 5/2021
Năm thứ. 32(4), Tháng 4/2021
Năm thứ. 32(3), Tháng 3/2021
Năm thứ. 32(2), Tháng 2/2021
Năm thứ. 32(1), Tháng 1/2021
2020
Năm thứ. 31(12), Tháng 12/2020
Năm thứ. 31(11), Tháng 11/2020
Năm thứ. 31(10), Tháng 10/2020
Năm thứ. 31(9), Tháng 9/2020
Năm thứ. 31(8), Tháng 8/2020
Năm thứ. 31(7), Tháng 7/2020
Năm thứ. 31(6), Tháng 6/2020
Năm thứ. 31(5), Tháng 5/2020
Năm thứ. 31(4), Tháng 4/2020
Năm thứ. 31(3), Tháng 3/2020
Năm thứ. 31(2), Tháng 2/2020
Năm thứ. 31(1), Tháng 1/2020
2019
Năm thứ. 30(12), Tháng 12/2019
Năm thứ. 30(11), Tháng 11/2019
Năm thứ. 30(10), Tháng 10/2019
Năm thứ. 30(9), Tháng 9/2019
Năm thứ. 30(8), Tháng 8/2019
Năm thứ. 30(7), Tháng 7/2019
Năm thứ. 30(6), Tháng 6/2019
Năm thứ. 30(5), Tháng 5/2019
Năm thứ. 30(4), Tháng 4/2019
Năm thứ. 30(3), Tháng 3/2019
Năm thứ. 30(2), Tháng 2/2019
Năm thứ. 30(1), Tháng 1/2019
2018
Năm thứ. 29(12), Tháng 12/2018
Năm thứ. 29(11), Tháng 11/2018
Năm thứ. 29(10), Tháng 10/2018
Năm thứ. 29(9), Tháng 9/2018
Năm thứ. 29(8), Tháng 8/2018
Năm thứ. 29(7), Tháng 7/2018
Năm thứ. 29(6), Tháng 6/2018
Năm thứ. 29(5), Tháng 5/2018
Năm thứ. 29(4), Tháng 4/2018
Năm thứ. 29(3), Tháng 3/2018
Năm thứ. 29(2), Tháng 2/2018
Năm thứ. 29(1), Tháng 1/2018
2017
Năm thứ. 28(12), Tháng 12/2017
Năm thứ. 28(11), Tháng 11/2017
Năm thứ. 28(10), Tháng 10/2017
Năm thứ. 28(9), Tháng 9/2017
Năm thứ. 28(8), Tháng 8/2017
Năm thứ. 28(7), Tháng 7/2017
Năm thứ. 28(6), Tháng 6/2017
Năm thứ. 28(5), Tháng 5/2017
Năm thứ. 28(4), Tháng 4/2017
Năm thứ. 28(3), Tháng 3/2017
Năm thứ. 28(2), Tháng 2/2017
Năm thứ. 28(1), Tháng 1/2017
2016
Năm thứ. 27(12), Tháng 12/2016
Năm thứ. 27(11), Tháng 11/2016
Năm thứ. 27(10), Tháng 10/2016
Năm thứ. 27(9), Tháng 9/2016
Năm thứ. 27(8), Tháng 8/2016
Năm thứ. 27(7), Tháng 7/2016
Năm thứ. 27(6), Tháng 6/2016
Năm thứ. 27(5), Tháng 5/2016
Năm thứ. 27(4), Tháng 4/2016
Năm thứ. 27(3), Tháng 3/2016
Năm thứ. 27(2), Tháng 2/2016
Năm thứ. 27(1), Tháng 1/2016
2015
Năm thứ. 26(12), Tháng 12/2015
Năm thứ. 26(11), Tháng 11/2015
Năm thứ. 26(10), Tháng 10/2015
Năm thứ. 26(9), Tháng 9/2015
Năm thứ. 26(8), Tháng 8/2015
Năm thứ. 26(7), Tháng 7/2015
Năm thứ. 26(6), Tháng 6/2015
Năm thứ. 26(5), Tháng 5/2015
Năm thứ. 26(4), Tháng 4/2015
Năm thứ. 26(3), Tháng 3/2015
Năm thứ. 26(2), Tháng 2/2015
Năm thứ. 26(1), Tháng 1/2015
2014
Số 290, Tháng 12/2014
Số 289, Tháng 11/2014
Số 288, Tháng 10/2014
Số 287, Tháng 9/2014
Số 286, Tháng 8/2014
Số 285, Tháng 7/2014
Số 284, Tháng 6/2014
Số 284DS, Tháng 6/2014
Số 283, Tháng 5/2014
Số 282, Tháng 4/2014
Số 281, Tháng 3/2014
Số 280, Tháng 2/2014
Số 279, Tháng 1/2014
2013
Số 278, Tháng 12/2013
Số 277, Tháng 11/2013
Số 276, Tháng 10/2013
Số 276DS, Tháng 10/2013
Số 275, Tháng 9/2013
Số 274, Tháng 8/2013
Số 273, Tháng 7/2013
Số 272, Tháng 6/2013
Số 271, Tháng 5/2013
Số 270, Tháng 4/2013
Số 269, Tháng 3/2013
Số 268, Tháng 2/2013
Số 267, Tháng 1/2013
2012
Số 266, Tháng 12/2012
Số 265, Tháng 11/2012
Số 264, Tháng 10/2012
Số 263, Tháng 9/2012
Số 262, Tháng 8/2012
Số 261, Tháng 7/2012
Số 260, Tháng 6/2012
Số 259, Tháng 5/2012
Số 258, Tháng 4/2012
Số 257, Tháng 3/2012
Số 256, Tháng 2/2012
Số 255, Tháng 1/2012
2011
Số 254, Tháng 12/2011
Số 253, Tháng 11/2011
Số 252, Tháng 10/2011
Số 251, Tháng 9/2011
Số 250, Tháng 8/2011
Số 249, Tháng 7/2011
Số 248, Tháng 6/2011
Số 247, Tháng 5/2011
Số 246, Tháng 4/2011
Số 245, Tháng 3/2011
Số 244, Tháng 2/2011
Số 243, Tháng 1/2011
2010
Số 242, Tháng 12/2010
Số 241, Tháng 11/2010
Số 240, Tháng 10/2010
Số 239, Tháng 9/2010
Số 238, Tháng 8/2010
Số 237, Tháng 7/2010
Số 236, Tháng 6/2010
Số 235, Tháng 5/2010
Số 234, Tháng 4/2010
Số 233, Tháng 3/2010
Số 232, Tháng 2/2010
Số 231, Tháng 1/2010
2009
Số 230, Tháng 12/2009
Số 229, Tháng 11/2009
Số 228, Tháng 10/2009
Số 227, Tháng 9/2009
Số 226, Tháng 8/2009
Số 225, Tháng 7/2009
Số 224, Tháng 6/2009
Số 223, Tháng 5/2009
Số 222, Tháng 4/2009
Số 221, Tháng 3/2009
Số 220, Tháng 2/2009
Số 219, Tháng 1/2009
2008
Số 218, Tháng 12/2008
Số 217, Tháng 11/2008
Số 216, Tháng 10/2008
Số 215, Tháng 9/2008
Số 214, Tháng 8/2008
Số 213, Tháng 7/2008
Số 212, Tháng 6/2008
Số 211, Tháng 5/2008
Số 210, Tháng 4/2008
Số 209, Tháng 3/2008
Số 208, Tháng 2/2008
Số 207, Tháng 1/2008
2007
Số 206, Tháng 12/2007
Số 205, Tháng 11/2007
Số 204, Tháng 10/2007
Số 203, Tháng 9/2007
Số 202, Tháng 8/2007
Số 201, Tháng 7/2007
Số 200, Tháng 6/2007
Số 199, Tháng 5/2007
Số 198, Tháng 4/2007
Số 197, Tháng 3/2007
Số 196, Tháng 2/2007
Số 195, Tháng 1/2007
2006
Số 194, Tháng 12/2006
Số 193, Tháng 11/2006
Số 192, Tháng 10/2006
Số 191, Tháng 9/2006
Số 190, Tháng 8/2006
Số 189, Tháng 7/2006
Số 188, Tháng 6/2006
Số 187, Tháng 5/2006
Số 186, Tháng 4/2006
Số 185, Tháng 3/2006
Số 184, Tháng 2/2006
Số 183, Tháng 1/2006
2005
Số 182, Tháng 12/2005
Số 181, Tháng 11/2005
Số 180, Tháng 10/2005
Số 179, Tháng 9/2005
Số 178, Tháng 8/2005
Số 177, Tháng 7/2005
Số 176, Tháng 6/2005
Số 175, Tháng 5/2005
Số 174, Tháng 4/2005
Số 173, Tháng 3/2005
Số 172, Tháng 2/2005
Số 171, Tháng 1/2005
2004
Số 170, Tháng 12/2004
Số 169, Tháng 11/2004
Số 168, Tháng 10/2004
Số 167, Tháng 9/2004
Số 166, Tháng 8/2004
Số 165, Tháng 7/2004
Số 164, Tháng 6/2004
Số 163, Tháng 5/2004
Số 162, Tháng 4/2004
Số 161, Tháng 3/2004
Số 160, Tháng 2/2004
Số 159, Tháng 1/2004
2003
Số 158, Tháng 12/2003
Số 157, Tháng 11/2003
Số 156, Tháng 10/2003
Số 155, Tháng 9/2003
Số 154, Tháng 8/2003
Số 153, Tháng 7/2003
Số 152, Tháng 6/2003
Số 151, Tháng 5/2003
Số 150, Tháng 4/2003
Số 149, Tháng 3/2003
Số 148, Tháng 2/2003
Số 147, Tháng 1/2003
2002
Số 146, Tháng 12/2002
Số 145, Tháng 11/2002
Số 144, Tháng 10/2002
Số 143, Tháng 9/2002
Số 142, Tháng 8/2002
Số 141, Tháng 7/2002
Số 140, Tháng 6/2002
Số 139, Tháng 5/2002
Số 138, Tháng 4/2002
Số 137, Tháng 3/2002
Số 136, Tháng 2/2002
Số 135, Tháng 1/2002
2001
Số 134, Tháng 12/2001
Số 133, Tháng 11/2001
Số 132, Tháng 10/2001
Số 131, Tháng 9/2001
Số 130, Tháng 8/2001
Số 129, Tháng 7/2001
Số 128, Tháng 6/2001
Số 127, Tháng 5/2001
Số 126, Tháng 4/2001
Số 125, Tháng 3/2001
Số 124, Tháng 2/2001
Số 123, Tháng 1/2001
2000
Số 122, Tháng 12/2000
Số 121, Tháng 11/2000
Số 120, Tháng 10/2000
Số 119, Tháng 9/2000
Số 118, Tháng 8/2000
Số 117, Tháng 7/2000
Số 116, Tháng 6/2000
Số 115, Tháng 5/2000
Số 114, Tháng 4/2000
Số 113, Tháng 3/2000
Số 112, Tháng 2/2000
Số 111, Tháng 1/2000
1999
Số 110, Tháng 12/1999
Số 109, Tháng 11/1999
Số 108, Tháng 10/1999
Số 107, Tháng 9/1999
Số 106, Tháng 8/1999
Số 105, Tháng 7/1999
Số 104, Tháng 6/1999
Số 103, Tháng 5/1999
Số 102, Tháng 4/1999
Số 101, Tháng 3/1999
Số 100, Tháng 2/1999
Số 99, Tháng 1/1999
1998
Số 98, Tháng 12/1998
Số 97, Tháng 11/1998
Số 96, Tháng 10/1998
Số 95, Tháng 9/1998
Số 94, Tháng 8/1998
Số 93, Tháng 7/1998
Số 92, Tháng 6/1998
Số 91, Tháng 5/1998
Số 90, Tháng 4/1998
Số 89, Tháng 3/1998
Số 88, Tháng 2/1998
Số 87, Tháng 1/1998
1997
Số 86, Tháng 12/1997
Số 85, Tháng 11/1997
Số 84, Tháng 10/1997
Số 83, Tháng 9/1997
Số 82, Tháng 8/1997
Số 81, Tháng 7/1997
Số 80, Tháng 6/1997
Số 79, Tháng 5/1997
Số 78, Tháng 4/1997
Số 77, Tháng 3/1997
Số 76, Tháng 2/1997
Số 75, Tháng 1/1997
1996
Số 74, Tháng 12/1996
Số 73, Tháng 11/1996
Số 72, Tháng 10/1996
Số 71, Tháng 9/1996
Số 70, Tháng 8/1996
Số 69, Tháng 7/1996
Số 68, Tháng 6/1996
Số 67, Tháng 5/1996
Số 66, Tháng 4/1996
Số 65, Tháng 3/1996
Số 64, Tháng 2/1996
Số 63, Tháng 1/1996
1995
Số 62, Tháng 12/1995
Số 61, Tháng 11/1995
Số 60, Tháng 10/1995
Số 59, Tháng 9/1995
Số 58, Tháng 8/1995
Số 57, Tháng 7/1995
Số 56, Tháng 6/1995
Số 55, Tháng 5/1995
Số 54, Tháng 4/1995
Số 53, Tháng 3/1995
Số 52, Tháng 2/1995
Số 51, Tháng 1/1995
1994
Số 50, Tháng 12/1994
Số 49, Tháng 11/1994
Số 48, Tháng 10/1994
Số 47, Tháng 9/1994
Số 46, Tháng 8/1994
Số 45, Tháng 7/1994
Số 44, Tháng 6/1994
Số 43, Tháng 5/1994
Số 42, Tháng 4/1994
Số 41, Tháng 3/1994
Số 40, Tháng 2/1994
Số 39, Tháng 1/1994
1993
Số 38, Tháng 12/1993
Số 37, Tháng 11/1993
Số 36, Tháng 10/1993
Số 35, Tháng 9/1993
Số 34, Tháng 8/1993
Số 33, Tháng 7/1993
Số 32, Tháng 6/1993
Số 31, Tháng 5/1993
Số 30, Tháng 4/1993
Số 29, Tháng 3/1993
Số 28, Tháng 2/1993
Số 27, Tháng 1/1993
1992
Số 26, Tháng 12/1992
Số 25, Tháng 11/1992
Số 24, Tháng 10/1992
Số 23, Tháng 9/1992
Số 22, Tháng 8/1992
Số 21, Tháng 7/1992
Số 20, Tháng 6/1992
Số 19, Tháng 5/1992
Số 18, Tháng 4/1992
Số 17 (Số tháng 2-3), Tháng 3/1992
Số 16, Tháng 1/1992
1991
Số 15, Tháng 12/1991
Số 14, Tháng 11/1991
Số 13, Tháng 10/1991
Số 12, Tháng 9/1991
Số 11, Tháng 8/1991
Số 10 (Tháng 6-7), Tháng 7/1991
Số 9, Tháng 5/1991
Số 8, Tháng 4/1991
Số 7, Tháng 2/1991
Số 6, Tháng 1/1991
1990
Mở rộng
|
| Số 233 , Tháng 3/2010 |
|
|
| |
Bàn về giải pháp nhập siêu ở Việt Nam hiện nay
(trang 31-36)
Vo Thanh Thu
Bản điện tử: 06 Jan 2021 | DOI:
Tóm tắt
Khủng hoảng kinh tế toàn cầu ở thời điểm đầu năm 2010 dường như ở giai đoạn kết thúc, bước sang giai đoạn hồi phục kinh tế. Để nền kinh tế VN phát triển bền vững trong giai đoạn mới, một trong những vấn đề cần giải quyết mang tính cấp bách đó là giảm nhập siêu. Nhập siêu không phải là vấn đề mới ở VN, vì gần như trên 20 năm qua nền kinh tế chúng ta đều trong tình trạng này, nhưng vấn đề ở chỗ VN trở thành nước nhập siêu lớn nhất khu vực, ba năm qua mức nhập siêu mỗi năm trên 12 tỷ USD đã ảnh hưởng hạn chế đến nền tài chính quốc gia, ảnh hưởng đến hiệu quả phát triển kinh tế.
VAS và IAS dưới góc nhìn của nhà đầu tư
(trang 49-55)
Vo Thi Quy & Nguyen Thi Lien Huong
Bản điện tử: 06 Jan 2021 | DOI:
Tóm tắt
"Hiện nay, các báo cáo tài chính là một công cụ để các nhà đầu tư dựa vào đó để đưa ra các quyết định của mình. Với xu hướng phát triển của thị trường tài chính quốc tế đòi hỏi các báo cáo tài chính phải so sánh được với nhau. Tuy nhiên, các quốc gia có thể áp dụng các chuẩn mực kế toán khác nhau để lập nên các báo cáo tài chính nên dẫn đến các báo cáo tài chính được lập trên các hệ thống chuẩn mực có thể có sự sai lệch. VN hiện nay đã ban hành hệ thống chuẩn mực kế toán VN (VAS) dựa trên việc kế thừa và điều chỉnh từ hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS). Nghiên cứu này được tiến hành trên cơ sở so sánh và phân tích hai hệ thống chuẩn mực kế toán VAS và IAS trên một số khía cạnh có liên quan đến các thông tin kế toán được sử dụng trong quá trình ra quyết định của nhà đầu tư. Áp dụng cho một số trường hợp cụ thể, kết quả cho thấy sự khác biệt giữa các chuẩn mực kế toán VN so với chuẩn mực kế toán quốc tế có thể vô hình chung làm đẹp các số liệu trong báo cáo tài chính và điều này có thể làm sai lệch quyết định của nhà đầu tư."
Tái cấu trúc nền kinh tế nhìn từ góc độ lý thuyết lợi thế cạnh tranh của Michael E. Porter
(trang 17-22)
Nguyen Xuan Hiep
Bản điện tử: 06 Jan 2021 | DOI:
Tóm tắt
"Khủng hoảng kinh tế là cơ hội để các quốc gia thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả của nền kinh tế. Song, đó là một công việc phức tạp vì liên quan đến hàng loạt vấn đề của nền kinh tế. Ở phương diện lý thuyết lợi thế cạnh tranh, tôi cho rằng tái cấu trúc nền kinh tế đồng hành với quá trình tạo lập và duy trì lợi thế cạnh tranh quốc gia. Vì thế, những vấn đề có tính nguyên lý được rút ra từ lý thuyết về lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael E. Porter có thể xem là cơ sở quan trọng có thể vận dụng để nghiên cứu và triển khai tái cấu trúc nền kinh tế.
Áp dụng cho nền kinh tế VN, những bất cập trong cấu trúc của nền kinh tế diễn ra trước cả khi nổ ra cuộc khủng hoảng, bộc lộ những yếu kém của nền kinh tế chưa sớm có thể khắc phục được. Vì vậy, tái cấu trúc trở thành một nhu cầu bức thiết. Song cũng vì thế, tái cấu trúc nền kinh tế VN như là cuộc cải cách toàn diện nền kinh tế, trong đó Chính phủ đóng vai trò đặc biệt quan trọng.
Cuối cùng, những vấn đề tác giả đưa ra trong bài viết này, hy vọng chỉ là những gợi ý để các bạn đọc cùng suy ngẫm và tranh luận trước khi Đề án tái cấu trúc nền kinh tế của Chính phủ do Bộ Kế hoạch & Đầu tư chủ trì xây dựng, phối hợp với các Bộ, Ngành, doanh nghiệp, địa phương cũng như tham khảo ý kiến các nhà khoa học chính thức được thông qua. "
Mối quan hệ giữa thực tiễn quản trị nguồn nhân lực, kết quả quản trị nguồn nhân lực và kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp
(trang 37-42)
Tran Kim Dung & doan Thanh Hai & Le Thi Loan & Bui Thi Thanh & Phan Quoc Tan & Huynh Van Tam
Bản điện tử: 06 Jan 2021 | DOI:
Tóm tắt
Nghiên cứu này thực hiện đo lường mối quan hệ giữa thực tiễn quản trị nguồn nhân lực (QTNNL), kết quả quản trị nguồn nhân lực và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp theo nhận thức của nhân viên. Nghiên cứu áp dụng mô hình phương trình cấu trúc và dựa trên mẫu khảo sát từ 366 doanh nghiệp trên địa bàn TP.HCM. Nghiên cứu cho thấy thang đo thực tiễn quản trị nguồn nhân lực có 9 thành phần: xác định nhiệm vụ, công việc; thu hút, tuyển chọn; đào tạo; đánh giá kết quả làm việc của nhân viên; quản lý lương thưởng; phát triển quan hệ lao động; thống kê nhân sự; thực hiện quy định của luật pháp; và khuyến khích thay đổi với 26 biến quan sát. Kết quả cho thấy ảnh hưởng dương của thực tiễn QTNNL đến kết quả QTNNL (â=0,75). Mức độ giải thích của thực tiễn QTNNL cho kết quả QTNNL là 56,4% (R2=0,56). QTNNL có ảnh hưởng rất mạnh đối với kết quả kinh doanh, mức độ giải thích của thực tiễn và kết quả QTNNL đối với kết quả kinh doanh là 45,3%. Kết quả nghiên cứu giúp cho các doanh nghiệp hiểu rõ các thành phần của thực tiễn QTNNL, tầm quan trọng của thực tiễn và kết quả QTNNL đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp từ đó có các chiến lược phù hợp nhằm nâng cao kết quả hoạt động của doanh nghiệp.
Giải pháp đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ ngân hàng trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
(trang 43-48)
Nguyen Thanh Phong
Bản điện tử: 06 Jan 2021 | DOI:
Tóm tắt
Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng là sự mở cửa hoạt động ngân hàng nhằm gắn kết hệ thống ngân hàng trong nước với hệ thống ngân hàng khu vực và thế giới theo một khuôn khổ luật pháp phù hợp và thống nhất, từng bước đi đến xóa bỏ sự phân biệt giữa ngân hàng trong nước với ngân hàng nước ngoài (NHNNg). Trong khuôn khổ Hiệp định Thương mại giữa VN và Hoa Kỳ (BTA) được ký kết vào ngày 10/12/2001, việc hạn chế quyền của một chi nhánh ngân hàng Hoa Kỳ nhận tiền gửi bằng đồng VN từ các pháp nhân mà ngân hàng không có quan hệ tín dụng được bãi bỏ kể năm 2009, làm cho mức độ cạnh tranh trong lĩnh vực huy động vốn của ngân hàng sẽ tăng lên đáng kể. Mặc khác, các nhà cung ứng dịch vụ tài chính Mỹ được phép cung ứng 12 phân ngành dịch vụ ngân hàng theo lộ trình 7 mốc, lộ trình này cho thấy mức độ tham gia cung ứng các loại hình dịch vụ ngân hàng của các nhà cung ứng dịch vụ Mỹ tại VN sẽ tăng dần. Như vậy, khi hội nhập ngày càng sâu rộng thì các hạn chế đối với các NHNNg trong việc tham gia vào các hoạt động ngân hàng ở VN sẽ dần dần được loại bỏ. Điều này đồng nghĩa với ngân hàng VN sẽ phải cạnh tranh với các đối thủ mạnh hơn mình ở nhiều mặt: Vốn, công nghệ, trình đô quản lý v.v.. Để nâng cao năng lực cạnh tranh, ngoài việc tăng vốn các NHTM Việt Nam cần phải nỗ lực hơn nữa cho việc đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ ngân hàng (DVNH). Trong bài viết này tác giả đi vào phân tích thực trạng một số dịch vụ chủ lực của NHTM Việt Nam để làm cơ sở đề xuất các giải pháp đa dạng hoá sản phẩm DVNH trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Đẩy mạnh phát triển các ngành dịch vụ góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam
(trang 12-16)
Nguyen dong Phong
Bản điện tử: 06 Jan 2021 | DOI:
Tóm tắt
Trên thế giới ngành dịch vụ (DV) ngày càng phát triển do nhu cầu phục vụ sản xuất theo hướng hiện đại và các cá nhân đang chi tiêu một tỷ lệ đáng kể trong thu nhập của họ vào các loại hình dịch vụ như du lịch, nhà hàng và giải trí nhằm gia tăng chất lượng cuộc sống của họ. Dịch vụ bưu chính – viễn thông, ngân hàng, tài chính, phát triển kinh doanh, bảo hiểm phát triển sôi động. Ngoài ra, người tiêu dùng cá nhân cũng chi nhiều hơn cho dịch vụ chăm sóc sức khỏe và giáo dục. Nhu cầu các ngành dịch vụ đang gia tăng đòi hỏi tính chuyên nghiệp trong cung ứng dịch vụ. Một số ngành dịch vụ ở nước ta trong thời gian qua đã có những bước phát triển khá nhanh và đang từng bước mở rộng quy mô. Cụ thể là dịch vụ thương mại, nhà hàng, khách sạn, du lịch, viễn thông,v.v.. Nhưng nhìn chung trong nhiều năm qua, sức tăng trưởng của ngành DV vẫn còn chậm, khu vực DV chiếm tỉ lệ % trong GDP 10 năm qua hầu như không đổi làm hạn chế khả năng đóng góp của các ngành DV vào phát triển và chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Bài viết này sẽ khái quát về vị trí của DV trong cơ cấu GDP, tình hình phát triển các ngành dịch vụ ở VN, tìm ra những thách thức, khó khăn để đề ra giải pháp phát triển. Nội dung bài viết bao gồm: (1) Khái quát cơ cấu kinh tế VN trong những năm qua và vị trí của khu vực DV; (2) Xác định những cơ hội và thách thức của ngành dịch vụ; (3) Định hướng và giải pháp phát triển các ngành DV.
Tái cấu trúc kinh tế: Định hướng và giải pháp thực hiện
(trang 02-07)
doan Thi Hong Van
Bản điện tử: 06 Jan 2021 | DOI:
Tóm tắt
"
Trong thời kỳ khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, tái cấu trúc kinh tế là vấn đề được nêu ra ở mọi quốc gia, tổ chức. Khủng hoảng là cơ hội để người ta nhìn lại chính mình và hơn bao giờ hết nhận thấy rất rõ: muốn phục hồi nhanh, phát triển bền vững và hiệu quả thì phải tái cấu trúc kinh tế. Giờ đây, khủng hoảng đã qua đi, các nền kinh tế đang trên đà phục hồi, thì tái cấu trúc kinh tế là việc cấp thiết phải làm, không cần phải luận bàn thêm, điều còn lại là phải giải quyết đúng đắn những vấn đề: tái cấu trúc theo hướng nào? Ai là người thực hiện tái cấu trúc và bằng cách nào để tái cấu trúc? Để giải quyết những vấn đề này, Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) đã soạn thảo và đang gấp rút hoàn thiện Đề án “Đổi mới và chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn đến năm 2020” sẽ trình Thủ tướng Chính phủ trong thời gian sắp tới. Trong khuôn khổ của bài viết, chúng tôi sẽ bày tỏ một số quan điểm, suy nghĩ của mình xung quanh vấn đề tái cấu trúc kinh tế."
Chuyển dịch cơ cấu và phục hồi tăng trưởng kinh tế Việt Nam
(trang 08-11)
Bui Quang Binh
Bản điện tử: 06 Jan 2021 | DOI:
Tóm tắt
Tăng trưởng kinh tế gắn liền với dịch chuyển cơ cấu kinh tế. Tăng trưởng đòi hỏi phải thay đổi chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế như một tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng tăng trưởng. Cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia hay vùng lãnh thổ luôn vận động thay đổi không ngừng và ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế. Nền kinh tế VN trong thời gian dài thể hiện tính chu kỳ gắn với biến động kinh tế trong và bên ngoài thế giới. Trong quá trình đó sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế cũng có sự thay đổi khác nhau và ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế. Xem xét những thay đổi cơ cấu kinh tế VN trong và sau các đợt suy giảm kinh tế sẽ giúp có những kiến nghị nhằm thúc đẩy sự phục hồi kinh tế đó chính là mục tiêu của bài viết.
|
|