2025
Năm thứ. 36(12), Tháng 12/2025
Năm thứ. 36(11), Tháng 11/2025
Năm thứ. 36(10), Tháng 10/2025
Năm thứ. 36(9), Tháng 9/2025
Năm thứ. 36(8), Tháng 8/2025
Năm thứ. 36(7), Tháng 7/2025
Năm thứ. 36(6), Tháng 6/2025
Năm thứ. 36(5), Tháng 5/2025
Năm thứ. 36(4), Tháng 4/2025
Năm thứ. 36(3), Tháng 3/2025
Năm thứ. 36(2), Tháng 2/2025
Năm thứ. 36(1), Tháng 1/2025
2024
Năm thứ. 35(12), Tháng 12/2024
Năm thứ. 35(11), Tháng 11/2024
Năm thứ. 35(10), Tháng 10/2024
Năm thứ. 35(9), Tháng 9/2024
Năm thứ. 35(8), Tháng 8/2024
Năm thứ. 35(7), Tháng 7/2024
Năm thứ. 35(6), Tháng 6/2024
Năm thứ. 35(5), Tháng 5/2024
Năm thứ. 35(4), Tháng 4/2024
Năm thứ. 35(3), Tháng 3/2024
Năm thứ. 35(2), Tháng 2/2024
Năm thứ. 35(1), Tháng 1/2024
2023
Năm thứ. 34(12), Tháng 12/2023
Năm thứ. 34(11), Tháng 11/2023
Năm thứ. 34(10), Tháng 10/2023
Năm thứ. 34(9), Tháng 9/2023
Năm thứ. 34(8), Tháng 8/2023
Năm thứ. 34(7), Tháng 7/2023
Năm thứ. 34(6), Tháng 6/2023
Năm thứ. 34(5), Tháng 5/2023
Năm thứ. 34(4), Tháng 4/2023
Năm thứ. 34(3), Tháng 3/2023
Năm thứ. 34(2), Tháng 2/2023
Năm thứ. 34(1), Tháng 1/2023
2022
Năm thứ. 33(12), Tháng 12/2022
Năm thứ. 33(11), Tháng 11/2022
Năm thứ. 33(10), Tháng 10/2022
Năm thứ. 33(9), Tháng 9/2022
Năm thứ. 33(8), Tháng 8/2022
Năm thứ. 33(7), Tháng 7/2022
Năm thứ. 33(6), Tháng 6/2022
Năm thứ. 33(5), Tháng 5/2022
Năm thứ. 33(4), Tháng 4/2022
Năm thứ. 33(3), Tháng 3/2022
Năm thứ. 33(2), Tháng 2/2022
Năm thứ. 33(1), Tháng 1/2022
2021
Năm thứ. 32(12), Tháng 12/2021
Năm thứ. 32(11), Tháng 11/2021
Năm thứ. 32(10), Tháng 10/2021
Năm thứ. 32(9), Tháng 9/2021
Năm thứ. 32(8), Tháng 8/2021
Năm thứ. 32(7), Tháng 7/2021
Năm thứ. 32(6), Tháng 6/2021
Năm thứ. 32(5), Tháng 5/2021
Năm thứ. 32(4), Tháng 4/2021
Năm thứ. 32(3), Tháng 3/2021
Năm thứ. 32(2), Tháng 2/2021
Năm thứ. 32(1), Tháng 1/2021
2020
Năm thứ. 31(12), Tháng 12/2020
Năm thứ. 31(11), Tháng 11/2020
Năm thứ. 31(10), Tháng 10/2020
Năm thứ. 31(9), Tháng 9/2020
Năm thứ. 31(8), Tháng 8/2020
Năm thứ. 31(7), Tháng 7/2020
Năm thứ. 31(6), Tháng 6/2020
Năm thứ. 31(5), Tháng 5/2020
Năm thứ. 31(4), Tháng 4/2020
Năm thứ. 31(3), Tháng 3/2020
Năm thứ. 31(2), Tháng 2/2020
Năm thứ. 31(1), Tháng 1/2020
2019
Năm thứ. 30(12), Tháng 12/2019
Năm thứ. 30(11), Tháng 11/2019
Năm thứ. 30(10), Tháng 10/2019
Năm thứ. 30(9), Tháng 9/2019
Năm thứ. 30(8), Tháng 8/2019
Năm thứ. 30(7), Tháng 7/2019
Năm thứ. 30(6), Tháng 6/2019
Năm thứ. 30(5), Tháng 5/2019
Năm thứ. 30(4), Tháng 4/2019
Năm thứ. 30(3), Tháng 3/2019
Năm thứ. 30(2), Tháng 2/2019
Năm thứ. 30(1), Tháng 1/2019
2018
Năm thứ. 29(12), Tháng 12/2018
Năm thứ. 29(11), Tháng 11/2018
Năm thứ. 29(10), Tháng 10/2018
Năm thứ. 29(9), Tháng 9/2018
Năm thứ. 29(8), Tháng 8/2018
Năm thứ. 29(7), Tháng 7/2018
Năm thứ. 29(6), Tháng 6/2018
Năm thứ. 29(5), Tháng 5/2018
Năm thứ. 29(4), Tháng 4/2018
Năm thứ. 29(3), Tháng 3/2018
Năm thứ. 29(2), Tháng 2/2018
Năm thứ. 29(1), Tháng 1/2018
2017
Năm thứ. 28(12), Tháng 12/2017
Năm thứ. 28(11), Tháng 11/2017
Năm thứ. 28(10), Tháng 10/2017
Năm thứ. 28(9), Tháng 9/2017
Năm thứ. 28(8), Tháng 8/2017
Năm thứ. 28(7), Tháng 7/2017
Năm thứ. 28(6), Tháng 6/2017
Năm thứ. 28(5), Tháng 5/2017
Năm thứ. 28(4), Tháng 4/2017
Năm thứ. 28(3), Tháng 3/2017
Năm thứ. 28(2), Tháng 2/2017
Năm thứ. 28(1), Tháng 1/2017
2016
Năm thứ. 27(12), Tháng 12/2016
Năm thứ. 27(11), Tháng 11/2016
Năm thứ. 27(10), Tháng 10/2016
Năm thứ. 27(9), Tháng 9/2016
Năm thứ. 27(8), Tháng 8/2016
Năm thứ. 27(7), Tháng 7/2016
Năm thứ. 27(6), Tháng 6/2016
Năm thứ. 27(5), Tháng 5/2016
Năm thứ. 27(4), Tháng 4/2016
Năm thứ. 27(3), Tháng 3/2016
Năm thứ. 27(2), Tháng 2/2016
Năm thứ. 27(1), Tháng 1/2016
2015
Năm thứ. 26(12), Tháng 12/2015
Năm thứ. 26(11), Tháng 11/2015
Năm thứ. 26(10), Tháng 10/2015
Năm thứ. 26(9), Tháng 9/2015
Năm thứ. 26(8), Tháng 8/2015
Năm thứ. 26(7), Tháng 7/2015
Năm thứ. 26(6), Tháng 6/2015
Năm thứ. 26(5), Tháng 5/2015
Năm thứ. 26(4), Tháng 4/2015
Năm thứ. 26(3), Tháng 3/2015
Năm thứ. 26(2), Tháng 2/2015
Năm thứ. 26(1), Tháng 1/2015
2014
Số 290, Tháng 12/2014
Số 289, Tháng 11/2014
Số 288, Tháng 10/2014
Số 287, Tháng 9/2014
Số 286, Tháng 8/2014
Số 285, Tháng 7/2014
Số 284, Tháng 6/2014
Số 284DS, Tháng 6/2014
Số 283, Tháng 5/2014
Số 282, Tháng 4/2014
Số 281, Tháng 3/2014
Số 280, Tháng 2/2014
Số 279, Tháng 1/2014
2013
Số 278, Tháng 12/2013
Số 277, Tháng 11/2013
Số 276, Tháng 10/2013
Số 276DS, Tháng 10/2013
Số 275, Tháng 9/2013
Số 274, Tháng 8/2013
Số 273, Tháng 7/2013
Số 272, Tháng 6/2013
Số 271, Tháng 5/2013
Số 270, Tháng 4/2013
Số 269, Tháng 3/2013
Số 268, Tháng 2/2013
Số 267, Tháng 1/2013
2012
Số 266, Tháng 12/2012
Số 265, Tháng 11/2012
Số 264, Tháng 10/2012
Số 263, Tháng 9/2012
Số 262, Tháng 8/2012
Số 261, Tháng 7/2012
Số 260, Tháng 6/2012
Số 259, Tháng 5/2012
Số 258, Tháng 4/2012
Số 257, Tháng 3/2012
Số 256, Tháng 2/2012
Số 255, Tháng 1/2012
2011
Số 254, Tháng 12/2011
Số 253, Tháng 11/2011
Số 252, Tháng 10/2011
Số 251, Tháng 9/2011
Số 250, Tháng 8/2011
Số 249, Tháng 7/2011
Số 248, Tháng 6/2011
Số 247, Tháng 5/2011
Số 246, Tháng 4/2011
Số 245, Tháng 3/2011
Số 244, Tháng 2/2011
Số 243, Tháng 1/2011
2010
Số 242, Tháng 12/2010
Số 241, Tháng 11/2010
Số 240, Tháng 10/2010
Số 239, Tháng 9/2010
Số 238, Tháng 8/2010
Số 237, Tháng 7/2010
Số 236, Tháng 6/2010
Số 235, Tháng 5/2010
Số 234, Tháng 4/2010
Số 233, Tháng 3/2010
Số 232, Tháng 2/2010
Số 231, Tháng 1/2010
2009
Số 230, Tháng 12/2009
Số 229, Tháng 11/2009
Số 228, Tháng 10/2009
Số 227, Tháng 9/2009
Số 226, Tháng 8/2009
Số 225, Tháng 7/2009
Số 224, Tháng 6/2009
Số 223, Tháng 5/2009
Số 222, Tháng 4/2009
Số 221, Tháng 3/2009
Số 220, Tháng 2/2009
Số 219, Tháng 1/2009
2008
Số 218, Tháng 12/2008
Số 217, Tháng 11/2008
Số 216, Tháng 10/2008
Số 215, Tháng 9/2008
Số 214, Tháng 8/2008
Số 213, Tháng 7/2008
Số 212, Tháng 6/2008
Số 211, Tháng 5/2008
Số 210, Tháng 4/2008
Số 209, Tháng 3/2008
Số 208, Tháng 2/2008
Số 207, Tháng 1/2008
2007
Số 206, Tháng 12/2007
Số 205, Tháng 11/2007
Số 204, Tháng 10/2007
Số 203, Tháng 9/2007
Số 202, Tháng 8/2007
Số 201, Tháng 7/2007
Số 200, Tháng 6/2007
Số 199, Tháng 5/2007
Số 198, Tháng 4/2007
Số 197, Tháng 3/2007
Số 196, Tháng 2/2007
Số 195, Tháng 1/2007
2006
Số 194, Tháng 12/2006
Số 193, Tháng 11/2006
Số 192, Tháng 10/2006
Số 191, Tháng 9/2006
Số 190, Tháng 8/2006
Số 189, Tháng 7/2006
Số 188, Tháng 6/2006
Số 187, Tháng 5/2006
Số 186, Tháng 4/2006
Số 185, Tháng 3/2006
Số 184, Tháng 2/2006
Số 183, Tháng 1/2006
2005
Số 182, Tháng 12/2005
Số 181, Tháng 11/2005
Số 180, Tháng 10/2005
Số 179, Tháng 9/2005
Số 178, Tháng 8/2005
Số 177, Tháng 7/2005
Số 176, Tháng 6/2005
Số 175, Tháng 5/2005
Số 174, Tháng 4/2005
Số 173, Tháng 3/2005
Số 172, Tháng 2/2005
Số 171, Tháng 1/2005
2004
Số 170, Tháng 12/2004
Số 169, Tháng 11/2004
Số 168, Tháng 10/2004
Số 167, Tháng 9/2004
Số 166, Tháng 8/2004
Số 165, Tháng 7/2004
Số 164, Tháng 6/2004
Số 163, Tháng 5/2004
Số 162, Tháng 4/2004
Số 161, Tháng 3/2004
Số 160, Tháng 2/2004
Số 159, Tháng 1/2004
2003
Số 158, Tháng 12/2003
Số 157, Tháng 11/2003
Số 156, Tháng 10/2003
Số 155, Tháng 9/2003
Số 154, Tháng 8/2003
Số 153, Tháng 7/2003
Số 152, Tháng 6/2003
Số 151, Tháng 5/2003
Số 150, Tháng 4/2003
Số 149, Tháng 3/2003
Số 148, Tháng 2/2003
Số 147, Tháng 1/2003
2002
Số 146, Tháng 12/2002
Số 145, Tháng 11/2002
Số 144, Tháng 10/2002
Số 143, Tháng 9/2002
Số 142, Tháng 8/2002
Số 141, Tháng 7/2002
Số 140, Tháng 6/2002
Số 139, Tháng 5/2002
Số 138, Tháng 4/2002
Số 137, Tháng 3/2002
Số 136, Tháng 2/2002
Số 135, Tháng 1/2002
2001
Số 134, Tháng 12/2001
Số 133, Tháng 11/2001
Số 132, Tháng 10/2001
Số 131, Tháng 9/2001
Số 130, Tháng 8/2001
Số 129, Tháng 7/2001
Số 128, Tháng 6/2001
Số 127, Tháng 5/2001
Số 126, Tháng 4/2001
Số 125, Tháng 3/2001
Số 124, Tháng 2/2001
Số 123, Tháng 1/2001
2000
Số 122, Tháng 12/2000
Số 121, Tháng 11/2000
Số 120, Tháng 10/2000
Số 119, Tháng 9/2000
Số 118, Tháng 8/2000
Số 117, Tháng 7/2000
Số 116, Tháng 6/2000
Số 115, Tháng 5/2000
Số 114, Tháng 4/2000
Số 113, Tháng 3/2000
Số 112, Tháng 2/2000
Số 111, Tháng 1/2000
1999
Số 110, Tháng 12/1999
Số 109, Tháng 11/1999
Số 108, Tháng 10/1999
Số 107, Tháng 9/1999
Số 106, Tháng 8/1999
Số 105, Tháng 7/1999
Số 104, Tháng 6/1999
Số 103, Tháng 5/1999
Số 102, Tháng 4/1999
Số 101, Tháng 3/1999
Số 100, Tháng 2/1999
Số 99, Tháng 1/1999
1998
Số 98, Tháng 12/1998
Số 97, Tháng 11/1998
Số 96, Tháng 10/1998
Số 95, Tháng 9/1998
Số 94, Tháng 8/1998
Số 93, Tháng 7/1998
Số 92, Tháng 6/1998
Số 91, Tháng 5/1998
Số 90, Tháng 4/1998
Số 89, Tháng 3/1998
Số 88, Tháng 2/1998
Số 87, Tháng 1/1998
1997
Số 86, Tháng 12/1997
Số 85, Tháng 11/1997
Số 84, Tháng 10/1997
Số 83, Tháng 9/1997
Số 82, Tháng 8/1997
Số 81, Tháng 7/1997
Số 80, Tháng 6/1997
Số 79, Tháng 5/1997
Số 78, Tháng 4/1997
Số 77, Tháng 3/1997
Số 76, Tháng 2/1997
Số 75, Tháng 1/1997
1996
Số 74, Tháng 12/1996
Số 73, Tháng 11/1996
Số 72, Tháng 10/1996
Số 71, Tháng 9/1996
Số 70, Tháng 8/1996
Số 69, Tháng 7/1996
Số 68, Tháng 6/1996
Số 67, Tháng 5/1996
Số 66, Tháng 4/1996
Số 65, Tháng 3/1996
Số 64, Tháng 2/1996
Số 63, Tháng 1/1996
1995
Số 62, Tháng 12/1995
Số 61, Tháng 11/1995
Số 60, Tháng 10/1995
Số 59, Tháng 9/1995
Số 58, Tháng 8/1995
Số 57, Tháng 7/1995
Số 56, Tháng 6/1995
Số 55, Tháng 5/1995
Số 54, Tháng 4/1995
Số 53, Tháng 3/1995
Số 52, Tháng 2/1995
Số 51, Tháng 1/1995
1994
Số 50, Tháng 12/1994
Số 49, Tháng 11/1994
Số 48, Tháng 10/1994
Số 47, Tháng 9/1994
Số 46, Tháng 8/1994
Số 45, Tháng 7/1994
Số 44, Tháng 6/1994
Số 43, Tháng 5/1994
Số 42, Tháng 4/1994
Số 41, Tháng 3/1994
Số 40, Tháng 2/1994
Số 39, Tháng 1/1994
1993
Số 38, Tháng 12/1993
Số 37, Tháng 11/1993
Số 36, Tháng 10/1993
Số 35, Tháng 9/1993
Số 34, Tháng 8/1993
Số 33, Tháng 7/1993
Số 32, Tháng 6/1993
Số 31, Tháng 5/1993
Số 30, Tháng 4/1993
Số 29, Tháng 3/1993
Số 28, Tháng 2/1993
Số 27, Tháng 1/1993
1992
Số 26, Tháng 12/1992
Số 25, Tháng 11/1992
Số 24, Tháng 10/1992
Số 23, Tháng 9/1992
Số 22, Tháng 8/1992
Số 21, Tháng 7/1992
Số 20, Tháng 6/1992
Số 19, Tháng 5/1992
Số 18, Tháng 4/1992
Số 17 (Số tháng 2-3), Tháng 3/1992
Số 16, Tháng 1/1992
1991
Số 15, Tháng 12/1991
Số 14, Tháng 11/1991
Số 13, Tháng 10/1991
Số 12, Tháng 9/1991
Số 11, Tháng 8/1991
Số 10 (Tháng 6-7), Tháng 7/1991
Số 9, Tháng 5/1991
Số 8, Tháng 4/1991
Số 7, Tháng 2/1991
Số 6, Tháng 1/1991
1990
Mở rộng
|
| Số 257 , Tháng 3/2012 |
|
|
| |
Thực tiễn phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng - Bài học kinh nghiệm cho vùng du lịch Bắc Trung Bộ
(trang 03-10)
Nguyen Quyet Thang & Nguyen Van Hoa
Bản điện tử: 18 Jun 2021 | DOI:
Tóm tắt
Du lịch sinh thái (DLST) được đánh giá là loại hình tăng trưởng nhanh nhất trong các loại hình du lịch, đem lại nguồn thu đáng kể cho nhiều quốc gia trong những năm gần đây. Tuy nhiên, DLST có khả năng nhưng không tất yếu là một hình thức của du lịch bền vững, bởi có thể gặp phải sự phản đối của cộng đồng địa phương. Từ thực tế trên, nghiên cứu đã tiếp cận đến một khía cạnh mới đó là phát triển DLST dựa vào cộng đồng. Bằng phương pháp tổng hợp, nghiên cứu tài liệu và phương pháp thống kê, bài viết đúc kết một số kinh nghiệm phát triển DLST dựa vào cộng đồng trên thế giới, phân tích hoạt động DLST của Vùng du lịch Bắc Trung Bộ (VDLBTB) và đề xuất các giải pháp phát triển DLST dựa vào cộng đồng, giúp hoạt động DLST của VDLBTB trở nên bền vững hơn.
Hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp fdi trong lĩnh vực vận tải
(trang 34-39)
Phan Thi Lien
Bản điện tử: 23 Nov 2019 | DOI:
Tóm tắt
Bài viết này ước lượng hiệu quả kĩ thuật của các doanh nghiệp (DN) có vốn đầu tư nước ngoài và các DN trong nước thông qua sử dụng bộ dữ liệu gồm 11.210 DN của ngành vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc do Tổng cục Thống kê điều tra năm 2010 với phương pháp ước lượng tham số (SFPF). Kết quả ước lượng cho thấy hiệu quả trung bình của DN thuộc ngành vận tải là 53,46%. Kết quả nghiên cứu là một bằng chứng trái ngược với luận điểm cho rằng tất cả các DN có vốn đầu tư nước ngoài đều có hiệu quả sản xuất cao hơn DN trong nước, ngược lại loại hình DN là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động của các DN có vốn đầu tư nước ngoài tại VN.
Ngưỡng nợ công nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam
(trang 20-26)
Su dinh Thanh
Bản điện tử: 23 Nov 2019 | DOI:
Tóm tắt
Nghiên cứu này đưa ra minh chứng bằng thực nghiệm về ngưỡng nợ công của VN. Tác giả sử dụng dữ liệu nợ công của VN giai đoạn 1990 – 2010, mô hình ngưỡng của Hansen (1996, 2000) và phương pháp ước lượng OLS để kiểm định hiệu ứng ngưỡng và ước lượng giá trị ngưỡng nợ công của VN. Công trình phát hiện ngưỡng nợ công của VN là 75,8% GDP. Phát hiện ngưỡng nợ công không hàm ý rằng Chính phủ nên hướng thiết lập nợ công ở mức này. Bởi lẽ, Chính phủ không thể nhận biết được khi nào một cú sốc bất thường xảy ra, điều khôn ngoan là nên giữ nợ công thấp hơn mức ngưỡng này. Phát hiện ngưỡng nợ công giúp cho Chính phủ tập trung kiểm soát tính bền vững của nợ công tốt hơn.
Ảnh hưởng từ những yếu tố chính của cửa hàng mạng đến sự hài lòng trên mạng
(trang 45-55)
Hoang Thi Phuong Thao
Bản điện tử: 23 Nov 2019 | DOI:
Tóm tắt
Thương mại điện tử đang ở giai đoạn khởi đầu tại VN, đem lại cả những cơ hội lẫn thách thức cho nhà bán lẻ trên mạng. Để thành công trong kênh thương mại mới mẻ này, nhà bán lẻ trên mạng cần hiểu rõ thái độ của khách hàng (KH) đối với cửa hàng trên mạng. Mục tiêu của nghiên cứu này là tìm hiểu xem quan niệm của KH trực tuyến về những yếu tố chính của cửa hàng mạng ảnh hưởng thế nào tới sự hài lòng của họ, điều này vốn dẫn tới sự gắn bó của họ với cửa hàng mạng. Nghiên cứu này sử dụng kỹ thuật định lượng, dựa trên một cuộc khảo sát qua mạng 204 khách mua sắm trực tuyến. Phân tích hồi quy được dùng để kiểm định giả thuyết rút ra từ khung nghiên cứu. Những yếu tố chất lượng chủ yếu của một cửa hàng mạng được xác định là thiết kế cửa hàng, độ tin cậy và tính tương tác, vốn ảnh hưởng đáng kể tới sự hài lòng của KH. Một khi KH hài lòng với những đặc điểm chủ đạo của cửa hàng, họ sẽ thích mua sắm ở cửa hàng đó. Kết quả này hàm ý rằng nhà bán lẻ trên mạng phải liên tục cải tiến giao diện cửa hàng về mặt mỹ thuật cũng như độ hữu dụng. Họ phải xây dựng niềm tin của KH đối với giao dịch qua cửa hàng mạng và tạo cơ hội cho KH tương tác thường xuyên với cửa hàng để thoả đáp nhu cầu cụ thể của họ, qua đó gia tăng lòng trung thành của họ.
Đo lường tác động của phát triển du lịch quốc tế đến phát triển kinh tế trường hợp các nước Đông Nam Á (ASEAN)
(trang 11-19)
Huynh Truong Huy & Nguyen Phu Son & Ngo My Tran & Vo Hong Phuong
Bản điện tử: 23 Nov 2019 | DOI:
Tóm tắt
Mối quan hệ giữa phát triển du lịch và phát triển kinh tế từ lâu đã được xác định và đo lường. Mục đích trọng tâm của nghiên cứu này là đo lường mối quan hệ giữa hai yếu tố trên đối với các nước Đông Nam Á trong giai đoạn 2001-2009. Kết quả ước lượng cho thấy sự phát triển của ngành du lịch quốc tế có vai trò tích cực đối với phát triển kinh tế, cụ thể là nâng cao thu nhập bình quân đầu người. Hơn nữa, những quốc gia nào có mức đô thị hóa cao thường thể hiện tác động của ngành du lịch đến tăng thu nhập bình quân đầu người cao hơn. Có thể nói, chuyển đổi kinh tế theo hướng phát triển công nghiệp và dịch vụ ở các nước Đông Nam Á trong thời gian qua không những giúp các nước này đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, mà còn góp phần nâng cao thu nhập cho người dân trong nền kinh tế.
Giải pháp đẩy mạnh thu hút FDI vào Việt Nam theo cách tiếp cận marketing
(trang 56-61)
Nguyen Quoc Nghi & Nguyen Huu Thuan
Bản điện tử: 23 Nov 2019 | DOI:
Tóm tắt
Trong giai đoạn 2000 - 2010, khu vực đầu tư nước ngoài tăng lên đáng kể, cả về số lượng và chất lượng, thực sự trở thành một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế VN. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chiếm từ 20%-30% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Thực tế những năm qua, công tác thu hút FDI của VN chú trọng nhiều đến số lượng dự án và vốn đăng kí đầu tư nhưng chưa thật sự đánh giá đúng tầm quan trọng của chất lượng các dự án đầu tư. Bên cạnh đó, cùng với những hạn chế trong hệ thống cơ sở hạ tầng, chính sách thu hút đầu tư chưa nhất quán, công tác xúc tiến và truyền thông kém hiệu quả đã làm cho môi trường đầu tư ở VN trở nên kém hấp dẫn các nhà đầu tư. Xuất phát từ thực tiễn, bài viết này đề xuất những giải pháp theo cách tiếp cận Marketing nhằm nâng cao khả năng thu hút FDI, góp phần đưa VN thành điểm đến hấp dẫn trong mắt các nhà đầu tư trên thế giới.
Khả năng và xu hướng cạnh tranh của ngành cà phê Việt Nam
(trang 40-44)
Nguyen Van Hoa & Tran dinh Ly
Bản điện tử: 23 Nov 2019 | DOI:
Tóm tắt
Trong bài viết này, có ba loại chỉ số dùng để đánh giá khả năng và xu hướng cạnh tranh của ngành cà phê VN những năm gần đây. Qua phân tích cho thấy cà phê VN có lợi thế so sánh so với các mặt hàng xuất khẩu khác của VN và so với sản phẩm cà phê xuất khẩu của thế giới. Sự gia tăng hệ số RCA của cà phê VN chứng tỏ lợi thế so sánh trong việc sản xuất cà phê của VN ngày càng cao. Đồ thị DRC của cà phê VN luôn nằm dưới đường tỉ giá hối đoái và khoảng cách giữa chúng ngày một xa, tái khẳng định lợi thế so sánh có xu hướng ngày một tăng. Điều đó cho thấy VN có thể tiết kiệm ngoại tệ một cách có hiệu quả từ việc đầu tư sản xuất cà phê cho xuất khẩu. Tuy nhiên, khi sử dụng chỉ số UV, chất lượng cà phê VN thấp hơn cà phê một số nước xuất khẩu cà phê hàng đầu của thế giới và trong khu vực như Indonesia ở châu Á, Brazil, Colombia và Costa Rica ở châu Mỹ. Chất lượng cà phê VN có xu hướng ngày một thấp, cho thấy có sự đánh đổi giữa lợi thế so sánh và cạnh tranh chất lượng trong việc sản xuất cà phê của VN.
Ứng dụng mô hình kinh tế lượng nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình vay vốn tín dụng của hộ nông dân trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
(trang 27-33)
dang Thanh Son
Bản điện tử: 23 Nov 2019 | DOI:
Tóm tắt
Tín dụng nông thôn có vai trò rất quan trọng để phát triển ngành nông nghiệp sản xuất nhỏ, lạc hậu trở thành ngành sản xuất hàng hóa, bản thân tín dụng nông thôn chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố. Bài viết này sử dụng mô hình phân tích Probit và Tobit để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng của hộ nông dân tỉnh Kiên Giang (KG). Kết quả nghiên cứu cho thấy hộ nông dân nào có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tài sản nhiều hơn thì khả năng tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng cao hơn. Điều này cho thấy các ngân hàng chỉ cho vay đối với những hộ nông dân có tài sản đảm bảo mà không dựa vào hiệu quả của dự án sản xuất kinh doanh của nông hộ. Kết quả nghiên cứu này là một trong những luận cứ khoa học cung cấp cho các nhà nghiên cứu, các ngân hàng và người quyết định trong việc lập chính sách phát triển kinh tế tỉnh KG hiệu quả hơn. Đồng thời, bài nghiên cứu này là cơ sở hỗ trợ cho các hộ nông dân trong quá trình sản xuất nông nghiệp sử dụng vốn vay hiệu quả hơn, tăng thu nhập, ổn định cuộc sống và tự vươn lên thoát nghèo, tạo môi trường thuận lợi cho toàn tỉnh phát triển bền vững.
|
|