2025
Năm thứ. 36(12), Tháng 12/2025
Năm thứ. 36(11), Tháng 11/2025
Năm thứ. 36(10), Tháng 10/2025
Năm thứ. 36(9), Tháng 9/2025
Năm thứ. 36(8), Tháng 8/2025
Năm thứ. 36(7), Tháng 7/2025
Năm thứ. 36(6), Tháng 6/2025
Năm thứ. 36(5), Tháng 5/2025
Năm thứ. 36(4), Tháng 4/2025
Năm thứ. 36(3), Tháng 3/2025
Năm thứ. 36(2), Tháng 2/2025
Năm thứ. 36(1), Tháng 1/2025
2024
Năm thứ. 35(12), Tháng 12/2024
Năm thứ. 35(11), Tháng 11/2024
Năm thứ. 35(10), Tháng 10/2024
Năm thứ. 35(9), Tháng 9/2024
Năm thứ. 35(8), Tháng 8/2024
Năm thứ. 35(7), Tháng 7/2024
Năm thứ. 35(6), Tháng 6/2024
Năm thứ. 35(5), Tháng 5/2024
Năm thứ. 35(4), Tháng 4/2024
Năm thứ. 35(3), Tháng 3/2024
Năm thứ. 35(2), Tháng 2/2024
Năm thứ. 35(1), Tháng 1/2024
2023
Năm thứ. 34(12), Tháng 12/2023
Năm thứ. 34(11), Tháng 11/2023
Năm thứ. 34(10), Tháng 10/2023
Năm thứ. 34(9), Tháng 9/2023
Năm thứ. 34(8), Tháng 8/2023
Năm thứ. 34(7), Tháng 7/2023
Năm thứ. 34(6), Tháng 6/2023
Năm thứ. 34(5), Tháng 5/2023
Năm thứ. 34(4), Tháng 4/2023
Năm thứ. 34(3), Tháng 3/2023
Năm thứ. 34(2), Tháng 2/2023
Năm thứ. 34(1), Tháng 1/2023
2022
Năm thứ. 33(12), Tháng 12/2022
Năm thứ. 33(11), Tháng 11/2022
Năm thứ. 33(10), Tháng 10/2022
Năm thứ. 33(9), Tháng 9/2022
Năm thứ. 33(8), Tháng 8/2022
Năm thứ. 33(7), Tháng 7/2022
Năm thứ. 33(6), Tháng 6/2022
Năm thứ. 33(5), Tháng 5/2022
Năm thứ. 33(4), Tháng 4/2022
Năm thứ. 33(3), Tháng 3/2022
Năm thứ. 33(2), Tháng 2/2022
Năm thứ. 33(1), Tháng 1/2022
2021
Năm thứ. 32(12), Tháng 12/2021
Năm thứ. 32(11), Tháng 11/2021
Năm thứ. 32(10), Tháng 10/2021
Năm thứ. 32(9), Tháng 9/2021
Năm thứ. 32(8), Tháng 8/2021
Năm thứ. 32(7), Tháng 7/2021
Năm thứ. 32(6), Tháng 6/2021
Năm thứ. 32(5), Tháng 5/2021
Năm thứ. 32(4), Tháng 4/2021
Năm thứ. 32(3), Tháng 3/2021
Năm thứ. 32(2), Tháng 2/2021
Năm thứ. 32(1), Tháng 1/2021
2020
Năm thứ. 31(12), Tháng 12/2020
Năm thứ. 31(11), Tháng 11/2020
Năm thứ. 31(10), Tháng 10/2020
Năm thứ. 31(9), Tháng 9/2020
Năm thứ. 31(8), Tháng 8/2020
Năm thứ. 31(7), Tháng 7/2020
Năm thứ. 31(6), Tháng 6/2020
Năm thứ. 31(5), Tháng 5/2020
Năm thứ. 31(4), Tháng 4/2020
Năm thứ. 31(3), Tháng 3/2020
Năm thứ. 31(2), Tháng 2/2020
Năm thứ. 31(1), Tháng 1/2020
2019
Năm thứ. 30(12), Tháng 12/2019
Năm thứ. 30(11), Tháng 11/2019
Năm thứ. 30(10), Tháng 10/2019
Năm thứ. 30(9), Tháng 9/2019
Năm thứ. 30(8), Tháng 8/2019
Năm thứ. 30(7), Tháng 7/2019
Năm thứ. 30(6), Tháng 6/2019
Năm thứ. 30(5), Tháng 5/2019
Năm thứ. 30(4), Tháng 4/2019
Năm thứ. 30(3), Tháng 3/2019
Năm thứ. 30(2), Tháng 2/2019
Năm thứ. 30(1), Tháng 1/2019
2018
Năm thứ. 29(12), Tháng 12/2018
Năm thứ. 29(11), Tháng 11/2018
Năm thứ. 29(10), Tháng 10/2018
Năm thứ. 29(9), Tháng 9/2018
Năm thứ. 29(8), Tháng 8/2018
Năm thứ. 29(7), Tháng 7/2018
Năm thứ. 29(6), Tháng 6/2018
Năm thứ. 29(5), Tháng 5/2018
Năm thứ. 29(4), Tháng 4/2018
Năm thứ. 29(3), Tháng 3/2018
Năm thứ. 29(2), Tháng 2/2018
Năm thứ. 29(1), Tháng 1/2018
2017
Năm thứ. 28(12), Tháng 12/2017
Năm thứ. 28(11), Tháng 11/2017
Năm thứ. 28(10), Tháng 10/2017
Năm thứ. 28(9), Tháng 9/2017
Năm thứ. 28(8), Tháng 8/2017
Năm thứ. 28(7), Tháng 7/2017
Năm thứ. 28(6), Tháng 6/2017
Năm thứ. 28(5), Tháng 5/2017
Năm thứ. 28(4), Tháng 4/2017
Năm thứ. 28(3), Tháng 3/2017
Năm thứ. 28(2), Tháng 2/2017
Năm thứ. 28(1), Tháng 1/2017
2016
Năm thứ. 27(12), Tháng 12/2016
Năm thứ. 27(11), Tháng 11/2016
Năm thứ. 27(10), Tháng 10/2016
Năm thứ. 27(9), Tháng 9/2016
Năm thứ. 27(8), Tháng 8/2016
Năm thứ. 27(7), Tháng 7/2016
Năm thứ. 27(6), Tháng 6/2016
Năm thứ. 27(5), Tháng 5/2016
Năm thứ. 27(4), Tháng 4/2016
Năm thứ. 27(3), Tháng 3/2016
Năm thứ. 27(2), Tháng 2/2016
Năm thứ. 27(1), Tháng 1/2016
2015
Năm thứ. 26(12), Tháng 12/2015
Năm thứ. 26(11), Tháng 11/2015
Năm thứ. 26(10), Tháng 10/2015
Năm thứ. 26(9), Tháng 9/2015
Năm thứ. 26(8), Tháng 8/2015
Năm thứ. 26(7), Tháng 7/2015
Năm thứ. 26(6), Tháng 6/2015
Năm thứ. 26(5), Tháng 5/2015
Năm thứ. 26(4), Tháng 4/2015
Năm thứ. 26(3), Tháng 3/2015
Năm thứ. 26(2), Tháng 2/2015
Năm thứ. 26(1), Tháng 1/2015
2014
Số 290, Tháng 12/2014
Số 289, Tháng 11/2014
Số 288, Tháng 10/2014
Số 287, Tháng 9/2014
Số 286, Tháng 8/2014
Số 285, Tháng 7/2014
Số 284, Tháng 6/2014
Số 284DS, Tháng 6/2014
Số 283, Tháng 5/2014
Số 282, Tháng 4/2014
Số 281, Tháng 3/2014
Số 280, Tháng 2/2014
Số 279, Tháng 1/2014
2013
Số 278, Tháng 12/2013
Số 277, Tháng 11/2013
Số 276, Tháng 10/2013
Số 276DS, Tháng 10/2013
Số 275, Tháng 9/2013
Số 274, Tháng 8/2013
Số 273, Tháng 7/2013
Số 272, Tháng 6/2013
Số 271, Tháng 5/2013
Số 270, Tháng 4/2013
Số 269, Tháng 3/2013
Số 268, Tháng 2/2013
Số 267, Tháng 1/2013
2012
Số 266, Tháng 12/2012
Số 265, Tháng 11/2012
Số 264, Tháng 10/2012
Số 263, Tháng 9/2012
Số 262, Tháng 8/2012
Số 261, Tháng 7/2012
Số 260, Tháng 6/2012
Số 259, Tháng 5/2012
Số 258, Tháng 4/2012
Số 257, Tháng 3/2012
Số 256, Tháng 2/2012
Số 255, Tháng 1/2012
2011
Số 254, Tháng 12/2011
Số 253, Tháng 11/2011
Số 252, Tháng 10/2011
Số 251, Tháng 9/2011
Số 250, Tháng 8/2011
Số 249, Tháng 7/2011
Số 248, Tháng 6/2011
Số 247, Tháng 5/2011
Số 246, Tháng 4/2011
Số 245, Tháng 3/2011
Số 244, Tháng 2/2011
Số 243, Tháng 1/2011
2010
Số 242, Tháng 12/2010
Số 241, Tháng 11/2010
Số 240, Tháng 10/2010
Số 239, Tháng 9/2010
Số 238, Tháng 8/2010
Số 237, Tháng 7/2010
Số 236, Tháng 6/2010
Số 235, Tháng 5/2010
Số 234, Tháng 4/2010
Số 233, Tháng 3/2010
Số 232, Tháng 2/2010
Số 231, Tháng 1/2010
2009
Số 230, Tháng 12/2009
Số 229, Tháng 11/2009
Số 228, Tháng 10/2009
Số 227, Tháng 9/2009
Số 226, Tháng 8/2009
Số 225, Tháng 7/2009
Số 224, Tháng 6/2009
Số 223, Tháng 5/2009
Số 222, Tháng 4/2009
Số 221, Tháng 3/2009
Số 220, Tháng 2/2009
Số 219, Tháng 1/2009
2008
Số 218, Tháng 12/2008
Số 217, Tháng 11/2008
Số 216, Tháng 10/2008
Số 215, Tháng 9/2008
Số 214, Tháng 8/2008
Số 213, Tháng 7/2008
Số 212, Tháng 6/2008
Số 211, Tháng 5/2008
Số 210, Tháng 4/2008
Số 209, Tháng 3/2008
Số 208, Tháng 2/2008
Số 207, Tháng 1/2008
2007
Số 206, Tháng 12/2007
Số 205, Tháng 11/2007
Số 204, Tháng 10/2007
Số 203, Tháng 9/2007
Số 202, Tháng 8/2007
Số 201, Tháng 7/2007
Số 200, Tháng 6/2007
Số 199, Tháng 5/2007
Số 198, Tháng 4/2007
Số 197, Tháng 3/2007
Số 196, Tháng 2/2007
Số 195, Tháng 1/2007
2006
Số 194, Tháng 12/2006
Số 193, Tháng 11/2006
Số 192, Tháng 10/2006
Số 191, Tháng 9/2006
Số 190, Tháng 8/2006
Số 189, Tháng 7/2006
Số 188, Tháng 6/2006
Số 187, Tháng 5/2006
Số 186, Tháng 4/2006
Số 185, Tháng 3/2006
Số 184, Tháng 2/2006
Số 183, Tháng 1/2006
2005
Số 182, Tháng 12/2005
Số 181, Tháng 11/2005
Số 180, Tháng 10/2005
Số 179, Tháng 9/2005
Số 178, Tháng 8/2005
Số 177, Tháng 7/2005
Số 176, Tháng 6/2005
Số 175, Tháng 5/2005
Số 174, Tháng 4/2005
Số 173, Tháng 3/2005
Số 172, Tháng 2/2005
Số 171, Tháng 1/2005
2004
Số 170, Tháng 12/2004
Số 169, Tháng 11/2004
Số 168, Tháng 10/2004
Số 167, Tháng 9/2004
Số 166, Tháng 8/2004
Số 165, Tháng 7/2004
Số 164, Tháng 6/2004
Số 163, Tháng 5/2004
Số 162, Tháng 4/2004
Số 161, Tháng 3/2004
Số 160, Tháng 2/2004
Số 159, Tháng 1/2004
2003
Số 158, Tháng 12/2003
Số 157, Tháng 11/2003
Số 156, Tháng 10/2003
Số 155, Tháng 9/2003
Số 154, Tháng 8/2003
Số 153, Tháng 7/2003
Số 152, Tháng 6/2003
Số 151, Tháng 5/2003
Số 150, Tháng 4/2003
Số 149, Tháng 3/2003
Số 148, Tháng 2/2003
Số 147, Tháng 1/2003
2002
Số 146, Tháng 12/2002
Số 145, Tháng 11/2002
Số 144, Tháng 10/2002
Số 143, Tháng 9/2002
Số 142, Tháng 8/2002
Số 141, Tháng 7/2002
Số 140, Tháng 6/2002
Số 139, Tháng 5/2002
Số 138, Tháng 4/2002
Số 137, Tháng 3/2002
Số 136, Tháng 2/2002
Số 135, Tháng 1/2002
2001
Số 134, Tháng 12/2001
Số 133, Tháng 11/2001
Số 132, Tháng 10/2001
Số 131, Tháng 9/2001
Số 130, Tháng 8/2001
Số 129, Tháng 7/2001
Số 128, Tháng 6/2001
Số 127, Tháng 5/2001
Số 126, Tháng 4/2001
Số 125, Tháng 3/2001
Số 124, Tháng 2/2001
Số 123, Tháng 1/2001
2000
Số 122, Tháng 12/2000
Số 121, Tháng 11/2000
Số 120, Tháng 10/2000
Số 119, Tháng 9/2000
Số 118, Tháng 8/2000
Số 117, Tháng 7/2000
Số 116, Tháng 6/2000
Số 115, Tháng 5/2000
Số 114, Tháng 4/2000
Số 113, Tháng 3/2000
Số 112, Tháng 2/2000
Số 111, Tháng 1/2000
1999
Số 110, Tháng 12/1999
Số 109, Tháng 11/1999
Số 108, Tháng 10/1999
Số 107, Tháng 9/1999
Số 106, Tháng 8/1999
Số 105, Tháng 7/1999
Số 104, Tháng 6/1999
Số 103, Tháng 5/1999
Số 102, Tháng 4/1999
Số 101, Tháng 3/1999
Số 100, Tháng 2/1999
Số 99, Tháng 1/1999
1998
Số 98, Tháng 12/1998
Số 97, Tháng 11/1998
Số 96, Tháng 10/1998
Số 95, Tháng 9/1998
Số 94, Tháng 8/1998
Số 93, Tháng 7/1998
Số 92, Tháng 6/1998
Số 91, Tháng 5/1998
Số 90, Tháng 4/1998
Số 89, Tháng 3/1998
Số 88, Tháng 2/1998
Số 87, Tháng 1/1998
1997
Số 86, Tháng 12/1997
Số 85, Tháng 11/1997
Số 84, Tháng 10/1997
Số 83, Tháng 9/1997
Số 82, Tháng 8/1997
Số 81, Tháng 7/1997
Số 80, Tháng 6/1997
Số 79, Tháng 5/1997
Số 78, Tháng 4/1997
Số 77, Tháng 3/1997
Số 76, Tháng 2/1997
Số 75, Tháng 1/1997
1996
Số 74, Tháng 12/1996
Số 73, Tháng 11/1996
Số 72, Tháng 10/1996
Số 71, Tháng 9/1996
Số 70, Tháng 8/1996
Số 69, Tháng 7/1996
Số 68, Tháng 6/1996
Số 67, Tháng 5/1996
Số 66, Tháng 4/1996
Số 65, Tháng 3/1996
Số 64, Tháng 2/1996
Số 63, Tháng 1/1996
1995
Số 62, Tháng 12/1995
Số 61, Tháng 11/1995
Số 60, Tháng 10/1995
Số 59, Tháng 9/1995
Số 58, Tháng 8/1995
Số 57, Tháng 7/1995
Số 56, Tháng 6/1995
Số 55, Tháng 5/1995
Số 54, Tháng 4/1995
Số 53, Tháng 3/1995
Số 52, Tháng 2/1995
Số 51, Tháng 1/1995
1994
Số 50, Tháng 12/1994
Số 49, Tháng 11/1994
Số 48, Tháng 10/1994
Số 47, Tháng 9/1994
Số 46, Tháng 8/1994
Số 45, Tháng 7/1994
Số 44, Tháng 6/1994
Số 43, Tháng 5/1994
Số 42, Tháng 4/1994
Số 41, Tháng 3/1994
Số 40, Tháng 2/1994
Số 39, Tháng 1/1994
1993
Số 38, Tháng 12/1993
Số 37, Tháng 11/1993
Số 36, Tháng 10/1993
Số 35, Tháng 9/1993
Số 34, Tháng 8/1993
Số 33, Tháng 7/1993
Số 32, Tháng 6/1993
Số 31, Tháng 5/1993
Số 30, Tháng 4/1993
Số 29, Tháng 3/1993
Số 28, Tháng 2/1993
Số 27, Tháng 1/1993
1992
Số 26, Tháng 12/1992
Số 25, Tháng 11/1992
Số 24, Tháng 10/1992
Số 23, Tháng 9/1992
Số 22, Tháng 8/1992
Số 21, Tháng 7/1992
Số 20, Tháng 6/1992
Số 19, Tháng 5/1992
Số 18, Tháng 4/1992
Số 17 (Số tháng 2-3), Tháng 3/1992
Số 16, Tháng 1/1992
1991
Số 15, Tháng 12/1991
Số 14, Tháng 11/1991
Số 13, Tháng 10/1991
Số 12, Tháng 9/1991
Số 11, Tháng 8/1991
Số 10 (Tháng 6-7), Tháng 7/1991
Số 9, Tháng 5/1991
Số 8, Tháng 4/1991
Số 7, Tháng 2/1991
Số 6, Tháng 1/1991
1990
Mở rộng
|
| Số 250 , Tháng 8/2011 |
|
|
| |
Kiểm soát tham vọng tài khóa
(trang 47-54)
Bản điện tử: 26 May 2021 | DOI:
Tóm tắt
Thế giới lần lượt chứng kiến những đợt khủng hoảng nợ tư nhân, nợ chính phủ và suy giảm kinh tế tại nhiều quốc gia thuộc hai châu lục hùng mạnh nhất: châu Mỹ và châu Âu. Đầu tiên là sự đổ vỡ thị trường bất động sản năm 2007 và phá sản hàng loạt ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty sản xuất ô-tô năm 2008 [1] tại Mỹ dẫn đến suy giảm kinh tế nước này. Tiếp theo, khủng hoảng nợ công và thâm thủng ngân sách lần lượt ở Hy Lạp năm 2009 và Ireland năm 2010 khiến Ngân hàng châu Âu (EB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) phải chi khoảng 110 tỷ Euro để giúp đỡ Hy Lạp, 90 tỷ Euro giúp Ireland. Các dấu hiệu bất ổn về tài khóa cũng đang dần bộc lộ tại Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, xa hơn là Pháp và Ý. Tất nhiên, những sự kiện vừa nêu chưa đủ để phủ nhận vai trò cần thiết và quan trọng của chính phủ trong quá trình thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường thiên nhiên và đảm bảo xã hội. Song, nếu thổi phồng ảnh hưởng của chính phủ và thiếu cái nhìn toàn diện về mối quan hệ hợp tác giữa chính phủ với khu vực tư trong quá trình nói trên thì thị trường chỉ là sàn diễn của một nhân vật. Các mối nguy lâu dài và khó khắc phục sẽ nảy sinh từ cuộc độc diễn của chính phủ. Xuất phát từ ý tưởng đó, bài viết này muốn thảo luận về tham vọng tài khóa của chính phủ. Sự ham muốn đôi khi vượt quá khuôn khổ của chính phủ khi thực thi chính sách tài khóa do nhận định chủ quan về trách nhiệm của mình có thể khiến việc điều hành kinh tế của chính phủ bị thất bại và hậu quả của nó là gánh nặng thuế tương lai đè lên người dân có thu nhập thấp hoặc thuộc diện hưởng trợ cấp xã hội. Sau khi tóm tắt hai trường phái kinh tế về chính sách tài khóa, bài viết đi vào ba phần chính. Phần thứ nhất điểm sơ lược về sự gia tăng chi tiêu và mức thâm hụt của chính phủ các nước chủ yếu thuộc Liên minh châu Âu (EU 27) và Mỹ giai đoạn gần đây. Phần thứ hai phân tích chính sách tài khóa ở VN từ năm 2004 đến năm 2010. Phần thứ ba là khuyến nghị kiểm soát tham vọng tài khóa tại VN, trong đó chủ đạo là thực thi khuôn khổ chi tiêu trung hạn.
Tín dụng bất động sản tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn TP.HCM
(trang 25-32)
Duong Thi Binh Minh & Phan Thị Bích Nguyệt & Su dinh Thanh & Nguyen Quynh Hoa & Nguyen Thi My Linh & Trinh Thi Kim Oanh & Ly Nguyen Ngoc Thao
Bản điện tử: 24 Nov 2019 | DOI:
Tóm tắt
Mối quan tâm chính của các nhà đầu tư bất động sản (BĐS) là nguồn tài trợ. Các doanh nghiệp (DN) kinh doanh trong lĩnh vực này cần có lượng vốn lớn và dài hạn. Các nguồn tài trợ chủ yếu từ: vốn của các nhà đầu tư, nguồn vốn ứng trước của người mua và nguồn tín dụng trung và ngắn hạn từ các ngân hàng thương mại (NHTM). Ở VN, các nhà đầu tư vào thị trường BĐS hiện nay phần lớn đều không đủ năng lực tài chính để thực hiện những dự án nhằm tạo ra các sản phẩm hoàn chỉnh cho thị trường sơ cấp. Nguồn cung vốn có tính quyết định và giữ vai trò lớn nhất cho thị trường BĐS vẫn là ngân hàng. Theo điều tra hiện nay, số DN kinh doanh BĐS có quy mô về vốn từ 10 tỷ đồng trở lên chỉ chiếm gần 30%, từ 500 tỷ đồng trở lên (30 triệu USD) chiếm 2,4%, còn lại phần lớn là vốn nhỏ không có khả năng thực hiện các dự án lớn nếu không có sự hỗ trợ của ngân hàng. Tín dụng BĐS là kênh tài trợ vốn cho thị trường BĐS, ngược lại, triển vọng của thị trường BĐS tác động trở lại đến các khoản vay BĐS. Do tính chất các khoản vay BĐS là những khoản vay có tài sản thế chấp chủ yếu hình thành từ vốn vay, nguồn trả nợ là từ các luồng tiền sinh ra từ tài sản. Vì vậy, bất cứ một sự biến động nào của thị trường BĐS cũng sẽ ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ của các ngân hàng, đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế VN từ năm 2008 đến nay có những bất ổn ở tầm vĩ mô. Trên cơ sở phân tích, tác giả đề xuất một số gợi ý chính sách nhằm hạn chế những rủi ro đối với tín dụng BĐS của các NHTM tại VN nói chung và trên địa bàn TP.HCM nó riêng.
Giải pháp ổn định và thu hút lao động chất lượng cao tại TP.HCM
(trang 33-39)
Tran Van Thien & Nguyen Sinh Cong
Bản điện tử: 22 Nov 2019 | DOI:
Tóm tắt
Lao động là nhân tố quan trọng hàng đầu, quyết định đến sự phát triển kinh tế - xã hội của một địa phương hoặc quốc gia. Đặc biệt, trong bối cảnh nhân loại đang hướng đến nền kinh tế tri thức, vai trò của lao động lại càng có ý nghĩa quyết định. TP.HCM nằm trong khu vực kinh tế năng động nhất của VN. Trong những năm qua, thành phố là một trong những địa phương dẫn đầu cả nước trong việc thu hút đầu tư nước ngoài và đóng vai trò đầu tàu kinh tế của khu vực và đất nước. Tuy nhiên, hiện nay thành phố đã không còn những lợi thế về lao động giá rẻ. Để có thể nâng cao năng lực cạnh tranh và có những bước phát triển mạnh mẽ và bền vững trong thời gian tới, thành phố cần có những giải pháp đột phá để xây dựng và phát triển đội ngũ lao động chất lượng cao. Bài viết này tập trung vào phân tích thực trạng cung- cầu lao động chất lượng cao trên địa bàn thành phố; dùng phương pháp nghiên cứu thống kê mô tả dựa trên kết quả khảo sát lao động chất lượng cao để làm rõ những nhu cầu của lao động này và những nguyên nhân chủ yếu làm cho họ bỏ việc. Qua đó, tác giả đề xuất một số giải pháp để ổn định và thu hút lao động chất lượng cao tại TP.HCM.
Tình hình sử dụng vốn vay của nông hộ tại tỉnh Kiên Giang
(trang 07-11)
dang Thanh Son & Bui Minh Tiet
Bản điện tử: 22 Nov 2019 | DOI:
Tóm tắt
Tín dụng nông thôn có vai trò rất quan trọng để phát triển ngành nông nghiệp sản xuất nhỏ, lạc hậu trở thành ngành nông nghiệp sản xuất hàng hóa, bản thân tín dụng nông thôn chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố. Bài viết này sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính để phân tích các nhân tố quy mô vốn vay, thời hạn, chi phí sử dụng vốn vay... ảnh hưởng như thế nào đến thu nhập của hộ nông dân. Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô vốn vay, thời hạn vay và chi phí sử dụng vốn vay ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của nông hộ; quyết định cho vay của các tổ chức tín dụng dựa vào diện tích đất, đất có bằng khoán hay không, chi tiêu, thu nhập cũng như tài sản của chủ hộ, đây là những yếu tố ảnh hưởng tích cực đến khả năng vay vốn cũng như lượng tiền vay được. Kết quả nghiên cứu này là một trong những luận cứ khoa học cung cấp cho các nhà nghiên cứu và người quyết định trong việc lập chính sách phát triển kinh tế tỉnh Kiên Giang hiệu quả hơn. Đồng thời, cũng là cơ sở hỗ trợ cho các hộ nông dân trong quá trình sản xuất nông nghiệp sử dụng vốn vay hiệu quả hơn, tăng thu nhập, ổn định cuộc sống và tự vươn lên thoát nghèo, tạo môi trường thuận lợi cho toàn tỉnh phát triển bền vững.
Một số giải pháp nhằm nâng cao thu nhập của người trồng cà phê ở khu vực Tây Nguyên
(trang 02-06)
dinh Phi Ho & Pham Ngoc Duong
Bản điện tử: 22 Nov 2019 | DOI:
Tóm tắt
Từ năm 2000, VN trở thành quốc gia xuất khẩu cà phê đứng thứ 2 thế giới về sản lượng và là nước xuất khẩu lớn nhất thế giới về loại cà phê vối (Robusta). Trong khoảng 10 năm trở lại đây, cà phê luôn là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của VN, góp phần không nhỏ vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Mặc dù vậy, đời sống của người dân vùng trồng cà phê vẫn còn nhiều khó khăn, thu nhập từ sản xuất cà phê đôi khi không đủ bù đắp chi phí để sản xuất ra chúng. Thực tế đó cho thấy việc tìm kiếm các giải pháp có căn cứ khoa học nhằm nâng cao thu nhập là thách thức của các nhà chính sách. Để thực hiện điều này, cần nhận diện được các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ sản xuất cà phê. Dựa vào khung lý thuyết kinh tế học nông nghiệp và thực tiễn VN, nhóm nghiên cứu đã xây dựng mô hình hồi quy đa biến nhằm định lượng các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ gia đình sản xuất cà phê. Nghiên cứu tiến hành điều tra trực tiếp 293 hộ gia đình sản xuất cà phê tại 2 tỉnh Lâm Đồng và Đắc Lắc thuộc khu vực Tây Nguyên để ứng dụng và kiểm định mô hình trên thực tiễn. Kết quả cho thấy, có 4 nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập bao gồm: quy mô diện tích cà phê đang thu hoạch, loại giống cà phê đang trồng, trình độ kiến thức của nông dân và trình độ ứng dụng công nghệ sinh học.
Hệ thống phân phối lúa gạo ở Thành phố Cần Thơ
(trang 20-24)
Nguyen Quoc Nghi
Bản điện tử: 22 Nov 2019 | DOI:
Tóm tắt
Từ những số liệu thu thập được thông qua phỏng vấn trực tiếp 165 tác nhân tham gia hệ thống phân phối lúa gạo, đồng thời sử dụng các phương pháp thống kê mô tả, phân tích lợi ích – chi phí, nghiên cứu đã phát họa hệ thống phân phối và đánh giá hiệu quả kinh tế của các tác nhân trong hệ thống phân phối lúa gạo ở thành phố Cần Thơ (TPCT). Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 6 kênh phân phối trong hệ thống phân phối lúa gạo ở TPCT. Trong đó, người bán lẻ gạo đạt tỷ suất lợi nhuận cao nhất trong hệ thống phân phối, kế đến là thương lái, cơ sở xay xát, nông hộ sản xuất lúa và cuối cùng là công ty lương thực. Tuy nhiên, với số lượng thu mua lớn thì công ty lương thực và thương lái là hai đối tượng được hưởng lợi nhiều nhất trong hệ thống phân phối lúa gạo ở TPCT.
So sánh hiệu quả kỹ thuật của vụ lúa hè thu và thu đông ở Đồng bằng sông Cửu Long
(trang 12-19)
Pham Le Thong
Bản điện tử: 22 Nov 2019 | DOI:
Tóm tắt
Hiệu quả kỹ thuật trong bài nghiên cứu này được ước lượng từ hàm sản xuất Cobb-Douglas, dựa trên số liệu sơ cấp được thu thập từ 479 nông hộ ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Kết quả nghiên cứu cho thấy năng suất trung bình của các nông hộ trong vụ Hè Thu và Thu Đông lần lượt là 4,7 và 4,3 tấn lúa/ha. Với cùng lượng đầu vào, năng suất vụ Hè Thu cao hơn vụ Thu Đông khoảng 6%. Mức hiệu quả kỹ thuật đạt được trong hai vụ lần lượt là 86% và 83%. Phần kém hiệu quả do chưa đạt hiệu quả tối đa gây thất thoát khoảng 770 kg lúa/ha trong vụ Hè Thu và 850 kg/ha trong vụ Thu Đông. Có sự chênh lệch lớn trong năng suất cũng như hiệu quả giữa các nông hộ do kỹ thuật không đồng bộ. Kết quả này cho thấy tiềm năng lớn để nông dân cải thiện năng suất của mình nếu cải thiện được kỹ thuật canh tác.
Dự định sử dụng Internet di động: Mở rộng mô hình chấp nhận công nghệ
(trang 55-61)
Nguyen Thi Mai Trang & Pham Ngoc Thao Vi
Bản điện tử: 22 Nov 2019 | DOI:
Tóm tắt
Nghiên cứu này xem xét một số yếu tố ảnh hưởng đến dự định sử dụng Internet di động tại VN. Mô hình nghiên cứu được dựa cơ bản trên mô hình chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model - TAM). Mô hình được kiểm định với 202 khách hàng tại TP.HCM. Kết quả nghiên cứu cho thấy tính hữu ích, sự thích thú, và tính cách tân ảnh hưởng đến dự định sử dụng Internet di động. Kết quả còn cho thấy tính dễ sử dụng không ảnh hưởng đến xu hướng sử dụng ngân hàng trực tuyến.
Ứng dụng phương pháp Volume Spread Analysis - VSA trong phân tích biến động giá cổ phiếu trên sàn HOSE
(trang 40-46)
Tran Thi Thuy Linh
Bản điện tử: 22 Nov 2019 | DOI:
Tóm tắt
Những bất ổn dần bộc lộ của nền kinh tế thế giới đã tác động mạnh mẽ đến thị trường chứng khoán (TTCK) VN. Sự biến động của các chính sách kinh tế vĩ mô, sự điều tiết chính sách tiền tệ thắt chặt, nợ xấu của ngân hàng, tín dụng trong chứng khoán và sự thoái trào của bất động sản vẫn là những vấn đề mà giới đầu tư suy nghĩ đến với tâm trạng lo lắng nhiều hơn là kỳ vọng. Điều này đã tác động lớn đến hành vi giao dịch trên TTCK VN trong quý I/2011, đã dẫn đến sự sụt giảm mạnh chỉ số VN-Index. Vào ngày 25/05/2011, VN-Index sụt giảm đến mức thấp nhất trong hai quý đầu năm 2011 chỉ còn 386,36 điểm đã ảnh hưởng lớn đến tâm lý của nhà đầu tư (NĐT), góp phần gia tăng tác động của tâm lý đám đông đối với giao dịch trên thị trường.
|
|