Thị trường cá da trơn Đồng bằng Sông Cửu Long, phân tích hành vi người tiêu dùng cá da trơn nội địa
do Van Xe & Chau Thanh Bao
DOI:
Email:
Đơn vị công tác:
Ngày nhận bài: 06/02/2018
Ngày nhận bài sửa:
06/02/2018
Ngày duyệt đăng: 06/01/2021
Lượt xem: 28
Downloads: 0
Các định dạng trích dẫn
Tóm tắt
Hiện nay, mặt hàng cá tra, cá basa (cá da trơn) của VN được nhiều thị trường quốc tế ưa chuộng và đang giữ vị trí số một trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng thủy sản VN. Trong tám tháng đầu năm 2009, sản lượng xuất khẩu cá da trơn là 264.000 tấn, thu được 600 triệu USD. Trong vòng mười năm (1997 - 2006) diện tích nuôi cá da trơn chỉ tăng 7 lần (từ 1.200 ha lên 9.000 ha) trong khi đó sản lượng tăng 36,2 lần (từ 22.500 tấn lên 825.000 tấn). Theo FAO, tổng sản phẩm cá da trơn toàn cầu năm 1995 là 10.000 tấn, năm 2005 là 440.000 tấn, trong khi đó chỉ riêng VN năm 2007 đạt khoảng 1 triệu tấn cá da trơn. Bên cạnh sự tăng trưởng khá hấp dẫn, thị trường cá da trơn của VN cũng gặp không ít khó khăn khách quan lẫn chủ quan. Trong vòng 9 năm liên tiếp có đến 8 lần giá cá da trơn nguyên liệu biến động, vụ kiện bán phá giá cá da trơn trên thị trường Mỹ vào tháng 12/2002, cá da trơn VN phát hiện bị nhiễm kháng sinh Malachite Green, Fluoroquinolones khi xuất khẩu. Tình trạng này cho thấy mặc dù xuất khẩu cá da trơn mang lại lợi nhuận cao, nhưng không ổn định và đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến người dân vùng ĐBSCL vì đây là nơi chủ yếu cung cấp nguyên liệu thô về cá da trơn. Bên cạnh việc xuất khẩu, thị trường nội địa cũng đóng vai trò rất quan trọng nếu chúng ta biết khai thác thì sẽ góp phần đáng kể, làm giảm sự bấp bênh vừa nêu. Để làm được việc này chúng ta cần phải nghiên cứu hành vi của người tiêu dùng, nhất là về các vấn đề liên quan đến nhu cầu và tiến trình quyết định mua của họ để từ đó tìm ra các biện pháp phù hợp vừa gia tăng thị phần nội địa, giúp thu nhập của người nuôi cá được ổn định hơn vừa giúp cho người dân trong nước có được nguồn thức ăn bổ dưỡng hợp với thu nhập của mình.
2026, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Nghiên cứu này phân tích mối quan hệ giữa kế hoạch thuế và lựa chọn chính sách kế toán, cung cấp bằng chứng thực nghiệm từ các doanh nghiệp (DN) phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) giai đoạn 2020-2024. Kết quả phân tích hồi quy từ 1.267 quan sát của tất cả DN khẳng định rằng, kế hoạch thuế có tác động mạnh mẽ và có ý nghĩa thống kê đến việc lựa chọn chính sách kế toán. Đặc biệt, nghiên cứu phát hiện mối quan hệ này không mang tính cố định mà chịu sự tác động điều tiết đáng kể từ tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài. Tỷ lệ sở hữu nước ngoài đóng vai trò kiềm chế mối quan hệ tích cực giữa kế hoạch thuế và lựa chọn chính sách kế toán. Điều này có thể do áp lực minh bạch hóa, tuân thủ chuẩn mực quốc tế từ các cổ đông nước ngoài. Bên cạnh đó, các yếu tố đặc trưng của DN như quy mô, đòn bẩy tài chính cũng được ghi nhận có ảnh hưởng rõ rệt đến lựa chọn chính sách kế toán. <br><br>Abstract <br>
This study analyzes the relationship between tax planning and accounting policy choices, providing empirical evidence from non-financial enterprises listed on the Ho Chi Minh City Stock Exchange (HOSE) from 2020 to 2024. The regression analysis results from 1,267 firm-year observations confirm that tax planning has a strong and statistically significant impact on accounting policy choices. Notably, the study finds that this relationship is not fixed but is significantly moderated by the level of foreign ownership. Foreign ownership plays a restraining role on the positive relationship between tax planning and accounting policy choices. This may be due to transparency pressures and the need for compliance with international standards from foreign shareholders. Furthermore, firm-specific characteristics such as size and financial leverage are also found to have a clear influence on accounting policy choices.
2025, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Sử dụng mô hình tâm lý học SOR (Stimulus - Organism - Response) cùng với phương pháp nghiên cứu định lượng - khảo sát trên diện rộng 244 người tiêu dùng Việt Nam, bài viết phân tích ảnh hưởng của tính truy xuất nguồn gốc ứng dụng Blockchain đến ý định mua thực phẩm của người tiêu dùng. Qua phân tích với công cụ SPSS 26.0 và Amos 26.0, kết quả nghiên cứu cho thấy khả năng truy xuất nguồn gốc của Blockchain nâng cao chất lượng, tính an toàn và chống giả mạo thực phẩm, từ đó ảnh hưởng tích cực đến niềm tin và cuối cùng là ý định mua hàng của người tiêu dùng. Từ đó, các tác giả đưa ra khuyến nghị cho cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp trong việc ứng dụng Blockchain nhằm gia tăng niềm tin, ý định mua thực phẩm của người tiêu dùng. <br> Abstract <br><br>
The combination of the Stimulus-Organism-Response (SOR) model with a quantitative research method - a broad survey of 244 consumers living in Vietnam. The authors aim to demonstrate the influence of Blockchain's traceability on consumers' intention to purchase food products. Through analysis using SPSS 26.0, the research results indicated that Blockchain traceability enhanced food quality, safety, and food fraud prevention, consequently had a positive impact on consumer trust and purchase intention. Based on these findings, the authors provided recommendations for authorities and businesses to promote the application of Blockchain in enhancing consumer trust and purchase intention.
2025, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Bằng cách sử dụng dữ liệu từ Tổng cục thống kê và Ngân hàng nhà nước, nghiên cứu phát triển chỉ số đo lường phát triển kinh tế xanh chất lượng cao đồng thời phân tích tác động của tín dụng xanh và phát thải CO2 đến phát triển kinh tế xanh chất lượng cao của 63 tỉnh, thành tại Việt Nam bằng mô hình không gian Durbin. Kết quả nghiên cứu cho thấy chất lượng phát triển kinh tế xanh chất lượng cao tại 63 tỉnh/thành đã tăng từ 2015 đến 2019, nhưng suy giảm giảm trong giai đoạn đại dịch COVID-19 (2020-2021). Tín dụng xanh và phát thải CO2 không chỉ trực tiếp tác động lên chất lượng kinh tế xanh của một tỉnh thành mà còn có tác động lan tỏa sang các tỉnh thành lân cận. Nghiên cứu đề xuất các biện pháp chính sách như cải thiện khung pháp lý, thành lập các thể chế chuyên biệt, giảm thuế và hệ thống chứng nhận tiêu chuẩn hóa để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tài chính xanh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.
2025, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Nghiên cứu này kiểm định vai trò của cường độ tìm kiếm trên Google trong việc phản ánh hành vi nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam, bằng cách đối chiếu hai giả thuyết đối lập là cường độ tìm kiếm đại diện cho sự chú ý hoặc cho sự không chắc chắn. Dữ liệu bảng theo tuần của 88 cổ phiếu trên sàn HOSE giai đoạn 2019–2023 được phân tích với mô hình Fama-French năm nhân tố, kết hợp biến trễ để kiểm định phản ứng theo thời gian. Kết quả cho thấy cường độ tìm kiếm có tác động dương đến suất sinh lời trong tuần hiện tại và tác động âm ở tuần kế tiếp, phù hợp với giả thuyết sự chú ý của nhà đầu tư. Phân tích theo quy mô cổ phiếu và tương tác với giai đoạn hậu COVID-19 góp phần củng cố tính ổn định của kết quả. Nghiên cứu gợi ý rằng cường độ tìm kiếm có thể được sử dụng như một chỉ báo giám sát hành vi thị trường. <br><br>Abstract<br> This study examines whether the Google search volume reflects investor attention or uncertainty in the Vietnamese stock market by testing two competing hypotheses within a unified framework. Using weekly panel data from 88 HOSE-listed stocks during 2019–2023, we apply the Fama-French five-factor model with lagged variables to capture short-term behavioral responses. The findings indicate that search volume positively affects stock returns in the current week but has a negative effect one week later, supporting the investor attention hypothesis. Robustness is confirmed through subsample analysis by firm size and post COVID-19 interaction. The results suggest that Google search volume primarily reflects attention-driven behavior rather than uncertainty, and may serve as a behavioral indicator for market monitoring in frontier markets.
2022, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Dịch bệnh Covid-19 lan rộng dẫn tới hình thức mua sắm trực tuyến trên các sàn thương mại điện tử (TMĐT) trở nên vượt trội hơn vì trong thời gian giãn cách xã hội, người dân bị hạn chế đi lại. Do vậy, nhu cầu mua các loại thực phẩm, hàng hóa của người tiêu dùng tăng mạnh. Tuy nhiên, trong thời điểm “Bình thường mới” hiện tại, liệu họ còn chọn lựa hình thức mua trực tuyến hay quay về các hình thức truyền thống trước đây? Để giải đáp, tác giả đã quyết định làm đề tài để tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng tới ý định tiếp tục mua thực phẩm tươi sống (TPTS) trên sàn TMĐT của genZ. Đề tài sử dụng cả phương pháp định tính và định lượng. Sau khi thu thập, làm sạch, và thu được 289 mẫu hợp lệ, tiến hành phân tích dữ liệu bằng phần mềm SPSS 26. Kết quả chỉ ra rằng biến thói quen, chất lượng sản phẩm, giá sản phẩm tác động đến ý định tiếp tục mua TPTS trên sàn TMĐT. Kết quả này giúp các nhà quản trị có những giải pháp để thu hút khách hàng tiếp tục mua thực phẩm trên sàn TMĐT trong thời điểm bình thường mới. <br><br> Abstract <br>
The widespread COVID-19 epidemic has led to online shopping on e-commerce platforms becoming superior because people are restricted from traveling during social distancing. As a result, consumers' demand for food and goods has increased sharply. However, in the current "New Normal," will they still choose to buy online or return to the traditional forms of before? This study explores the factors affecting the intention to continue buying fresh food on the e-commerce platform of genZ. The study used both qualitative and quantitative methods. Two hundred eighty-nine valid samples were collected online, and SPSS software was used to analyze the research model. The results show that variables such as habit, product quality, and product price affect the intention to buy fresh food on e-commerce platforms. This result helps administrators find solutions to attract customers to continue buying food on e-commerce platforms in the new normal.