Đơn vị công tác: Truong dai hoc Kinh te TP. Ho Chi Minh
Ngày nhận bài: 14/01/2023
Ngày nhận bài sửa:
18/02/2023
Ngày duyệt đăng: 05/11/2025
Lượt xem: 66
Downloads: 3
Các định dạng trích dẫn
Tóm tắt
Bài báo này trình bày những kết quả của nghiên cứu về tác động của lãnh đạo chuyển đổi đến năng lực đổi mới và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. Mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) và phân tích tập mờ áp dụng trong phân tích so sánh (fsQCA) là các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong bài viết này. Có 212 giám đốc và lãnh đạo cấp cao của các công ty sản xuất và dịch vụ từ thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương đã trả lời bảng câu hỏi khảo sát. Nghiên cứu cho thấy rằng lãnh đạo chuyển đổi có ảnh hưởng tích cực đến năng lực đổi mới và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. Ngoài ra, kết quả fsQCA chứng minh rằng sự kết hợp của các thành phần năng lực đổi mới tạo ra các điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.
Từ khóa
lãnh đạo chuyển đổi, năng lực đổi mới, hiệu quả hoạt động doanh nghiệp
2022, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Triển vọng phát triển kinh tế của Việt Nam trong tương lai gắn liền với khả năng chuyển đổi số của nền kinh tế, trong đó, khả năng chuyển đổi số của khu vực xuất nhập khẩu đóng vai trò quan trọng. Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ số tại các đơn vị xuất nhập khẩu hiện còn gặp nhiều trở ngại và cần có những chính sách phù hợp để tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi đẩy mạnh chuyển đổi công nghệ số trong khu vực này. Dữ liệu được thu thập qua các phỏng vấn sâu với các nhà quản trị tại mười đơn vị xuất nhập khẩu Việt Nam. Kết quả chỉ ra những yếu tố thúc đẩy chuyển đổi số tại các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam và những yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công trong quá trình chuyển đổi số của họ. Từ đó, các giải pháp tại nhiều cấp độ được đề nghị để có thể đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số hiệu quả cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại Việt Nam.
2026, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng của hệ thống kế toán quản trị và kiểm soát đến đổi mới sáng tạo mở hướng nội và kết quả hoạt động kinh doanh, đồng thời kiểm định vai trò trung gian của đổi mới sáng tạo mở hướng nội. Kết quả phân tích dữ liệu từ 262 doanh nghiệp vừa và lớn tại Việt Nam từ phần mềm SmartPLS4 cho thấy việc sử dụng hệ thống kế toán quản trị và kiểm soát chẩn đoán và tương tác đều có ảnh hưởng tích cực đến đổi mới sáng tạo mở hướng nội. Ngoài ra, nó còn ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh thông qua đổi mới sáng tạo mở hướng nội. Nghiên cứu đóng góp thêm vào tài liệu học thuật về việc sử dụng hệ thống kế toán quản trị kết hợp khung đòn bẩy kiểm soát của Simons (1995) trong bối cảnh đổi mới sáng tạo mở. Bên cạnh đó, bài báo cung cấp hàm ý quản trị quan trọng cho các nhà quản lý trong việc sử dụng hệ thống kế toán quản trị và kiểm soát, tích cực tiếp thu các kiến thức và công nghệ từ bên ngoài nhằm nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. <br><br>Abstract <br>
This study examines the impact of management accounting and control systems on inbound open innovation and firm performance, while also testing the mediating role of inbound open innovation. Analysis of data from 262 medium and large enterprises in Vietnam using SmartPLS4 software shows that the use of both diagnostic and interactive management accounting and control systems positively influences inbound open innovation. Furthermore, it also affects firm performance through inbound open innovation. This study contributes to the academic literature on the use of management accounting system combined with levers of control framework of Simons (1995) in the context of open innovation. In addition, the article provides important managerial implications for managers in using management accounting and control systems, actively acquiring external knowledge and technology to improve firm performance.
2026, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Hiệp định Paris năm 2015 đặt ra các cam kết toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính và ứng phó với biến đổi khí hậu, trong đó phát triển năng lượng tái tạo được xem là một trong những giải pháp quan trọng. Trong quá trình thực hiện các cam kết này, sự can thiệp của chính phủ và đổi mới công nghệ xanh đóng vai trò là những công cụ hỗ trợ then chốt. Vì vậy, nghiên cứu hướng đến mục tiêu đo lường sự gắn kết của GOV–REN và TEC–REN. Từ kết quả phương pháp Wavelet Local Multiple Correlation (WLMC), nghiên cứu xác nhận tương quan tích cực giữa GOV và REN trong ngắn hạn và tiêu cực trong dài hạn. Trong khi tương quan giữa TEC và REN là tích cực từ ngắn hạn đến dài hạn. Sau đó, ảnh hưởng của tăng trưởng kinh tế (GDP) đến sự gắn kết của GOV–REN và TEC–REN được xem xét bổ sung. Kết quả cho thấy sự gắn kết giữa GDP và REN được xác định bởi GOV và TEC tại phần lớn thời gian và tần số. Những phát hiện này có ý nghĩa quan trọng về việc củng cố các chính sách hướng đến phát triển nguồn năng lượng và tăng trưởng kinh tế bền vững. <br><br> Abstract <br>
The 2015 Paris Agreement highlights global commitments to reduce greenhouse gas emissions and strengthen climate change mitigation efforts. In this context, renewable energy development is widely recognized as a key pathway to achieving climate goals, with government intervention and green technological innovation playing important facilitating roles. Therefore, this study aims to measure the linkages between GOV–REN and TEC–REN. Based on the Wavelet Local Multiple Correlation (WLMC) method, the results indicate that government intervention exerts a positive impact on renewable energy consumption in the short term but a negative impact in the long term. In contrast, green technological innovation consistently promotes renewable energy consumption across both short- and long-term horizons. In addition, the impact of economic growth (GDP) on the linkages between GOV–REN and TEC–REN is also examined. The results highlight that the relationship between GDP and REN is determined by GOV and TEC across different time periods and frequencies. These findings have important implications for strengthening policies to achieve energy development and sustainable economic growth.
2026, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Nghiên cứu vận dụng lí thuyết giá trị cảm nhận để đánh giá vai trò của năng lực marketing của chủ sở hữu nền tảng đối với ý định tiếp tục sử dụng nền tảng của các nhà cung ứng dịch vụ trong bối cảnh kinh tế chia sẻ. Dựa vào bộ dữ liệu được thu thập từ 291 nhà hàng đang kinh doanh trên nền tảng dịch vụ giao đồ ăn trực tuyến, kết quả phân tích mô hình cấu trúc theo phương pháp bình phương nhỏ nhất (PLS SEM) đã chỉ ra năng lực marketing của chủ sở hữu nền tảng giúp nâng cao đáng kể giá trị tri thức, giá trị xã hội và ý định tiếp tục sử dụng. Bên cạnh đó, ý định tiếp tục sử dụng được dự báo bởi cả giá trị kinh tế, giá trị xã hội và giá trị tri thức. Trong mối quan hệ giữa năng lực marketing và ý định tiếp tục sử dụng, giá trị xã hội và giá trị tri thức được chứng minh là các biến trung gian. Trong khi đó, ảnh hưởng của năng lực marketing đến giá trị kinh tế lại không được chấp nhận và giá trị kinh tế không đóng vai trò trung gian như kì vọng. Từ các kết quả đạt được, một số hàm ý đã được đề xuất cho các bên liên quan để phát triển bền vững mô hình kinh tế chia sẻ. <br><br> Abstract <br>
This study applies the perceived value theory to examine the role of platform owners’ marketing capabilities in influencing service providers’ intention to continue using the platform within the context of the sharing economy. Based on survey data collected from 291 restaurants operating on online food delivery platforms, structural equation modeling using the partial least squares (PLS SEM) method reveals that marketing capabilities significantly enhance epistemic value, social value, and continuance intention. Furthermore, continuance intention is predicted by economic value, social value, and epistemic value. In the relationship between marketing capabilities and continuance intention, social and epistemic values are confirmed as mediating variables. However, the impact of marketing capabilities on economic value is not supported, and economic value does not serve as a mediator as initially expected. Based on these findings, several implications are proposed for stakeholders to promote the sustainable development of sharing economy models.
2025, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Bài viết này kiểm định ảnh hưởng của tính bất định chính sách kinh tế đến mức độ phát thải carbon và ý nghĩa kinh tế đối với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp của năm quốc gia thuộc khu vực Châu Á. Dựa trên mẫu dữ liệu gồm 21.501 quan sát trong giai đoạn 2002-2022 và vận dụng phương pháp hồi quy GMM, kết quả nghiên cứu cho thấy tính bất định của chính sách kinh tế có mối tương quan thuận chiều với mức độ phát thải carbon ở cấp độ doanh nghiệp. Tác động này mạnh hơn đối với các công ty đang hoạt động tại các quốc gia có mức độ kiểm soát tham nhũng kém. Hơn nữa, bất định trong chính sách kinh tế làm suy giảm đáng kể hiệu suất hoạt động của các tổ chức kinh doanh có mức độ phát thải cao. <br><br>Abstract<br>
This paper investigates the effect of economic policy uncertainty on carbon emission intensity and its economic significance for firm performance in five countries within the Asia region. Based on a dataset comprising 21,501 observations from the period 2002 to 2022 and employing two-step System-GMM regression, the study finds that economic policy uncertainty is positively correlated with firms’ carbon emission levels. This effect is more pronounced for firms operating in countries with poor control of corruption. Furthermore, facing economic policy uncertainty significantly reduces the performance of firms with high emission intensity.