Thận trọng trong xây dựng lộ trình tự do hóa giao dịch vốn của VN
Ha Thi Thieu Dao
DOI:
Email:
Đơn vị công tác:
Ngày nhận bài: 06/02/2018
Ngày nhận bài sửa:
06/02/2018
Ngày duyệt đăng: 06/01/2021
Lượt xem: 6
Downloads: 0
Các định dạng trích dẫn
Tóm tắt
VN nên tự do hoá giao dịch vốn như thế nào? Để trả lời vấn đề này tác giả đã tìm hiểu lý thuyết về tự do hoá giao dịch vốn, nghiên cứu điển hình về tự do hoá giao dịch vốn thành công và thất bại, đánh giá mức độ tự do hoá giao dịch vốn ở VN, đánh giá các điều kiện cần thiết để đảm bảo tự do hoá giao dịch vốn thành công và đưa ra một lộ trình tự do hoá giao dịch vốn cho VN.
2026, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu và môi trường chính sách trong nước nhiều biến động, nghiên cứu này phân tích tác động của bất định chính sách kinh tế đến đầu tư tài sản cố định của doanh nghiệp. Nghiên cứu sử dụng bộ chỉ số bất định chính sách kinh tế do Hoang và cộng sự (2025) xây dựng riêng cho Việt Nam bao gồm bất định chính sách tiền tệ, bất định chính sách tài khóa và bất định chính sách thương mại, kết hợp với dữ liệu tài chính của 1.373 doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2016–2023. Kết quả cho thấy bất định chính sách kinh tế có tác động tiêu cực rõ rệt đến đầu tư doanh nghiệp, đặc biệt là từ bất định chính sách tiền tệ và tài khóa. Tác động này vẫn duy trì ngay cả với các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả. Ngoài ra, cấu trúc sở hữu doanh nghiệp đóng vai trò điều tiết quan trọng: doanh nghiệp tư nhân phản ứng mạnh hơn trong khi doanh nghiệp nhà nước ít nhạy hơn với sự thay đổi trong bất định chính sách kinh tế, doanh nghiệp nước ngoài không có phản ứng rõ rệt. Các phát hiện mang lại hàm ý chính sách quan trọng cho Nhà nước, nhà đầu tư và khu vực doanh nghiệp trong việc ứng phó với rủi ro vĩ mô.
<br><br>Abstract<br>
In the context of increasing global and domestic policy and macroeconomic uncertainty, this study examines the impact of economic policy uncertainty on firms’ capital expenditure (fixed asset investment) decisions. This paper employs the Vietnam-specific economic policy uncertainty indices developed by Hoang et al. (2025), which disaggregate uncertainty into monetary, fiscal, and trade components. Using financial data from 1,373 Vietnamese firms during 2016–2023 and a multi-way fixed effects model, this paper finds that economic policy uncertainty negatively affects capital expenditures, with fiscal and monetary policy uncertainty exerting the strongest effects. Importantly, this negative relationship persists even among high-performing firms, suggesting that uncertainty weakens investment incentives regardless of operational efficiency. Ownership structure plays a moderating role: Privately owned enterprises are more sensitive to economic policy uncertainty than their state-owned counterparts, while foreign-owned enterprises exhibit no significant response. These findings offer important policy implications for policymakers, investors, and firms in coping with macroeconomic risks
2026, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Ngành bảo hiểm giữ vai trò thiết yếu trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đảm bảo ổn định tài chính và phân bổ rủi ro hiệu quả. Nghiên cứu này phân tích năng suất và hiệu quả của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam trong giai đoạn 2019–2021, sử dụng chỉ số năng suất Färe-Primont. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các công ty bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam có hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả hỗn hợp duy trì ở mức cao, trong khi hiệu quả tổng thể và hiệu quả quy mô tương đối thấp. Trong giai đoạn 2019–2021, mặc dù tiến bộ công nghệ ngành bảo hiểm suy giảm, năng suất tổng thể và hiệu quả hoạt động của ngành đã ghi nhận sự tăng nhẹ nhờ vào cải thiện hiệu quả quy mô. Để nâng cao năng suất và hiệu quả tổng thể, các công ty bảo hiểm phi nhân thọ cần ưu tiên các giải pháp nhằm tối ưu hóa hiệu quả quy mô và tăng tiến bộ công nghệ.
<br><br>Abstract <br>
The insurance industry plays a vital role in promoting economic growth, ensuring financial stability, and efficiently allocating risks. This study analyzes the productivity and efficiency of non-life insurance companies in Vietnam during the period 2019–2021, employing the Färe-Primont productivity index. The findings indicate that Vietnam’s non-life insurance companies maintain high technical and mix efficiencies, while overall and scale efficiencies remain relatively low. Over the period 2019–2021, despite a decline in technological progress in the industry, overall productivity and operational efficiency recorded slight improvements, driven by enhanced scale efficiency. To boost productivity and overall efficiency, non-life insurance companies should prioritize solutions to optimize scale efficiency and accelerate technological progress.
2025, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Nghiên cứu này phân tích hiệu quả và năng suất tổng hợp của các tỉnh Đông Nam Bộ (ĐNB) trong giai đoạn từ 2010 - 2021. Bài báo sử dụng dữ liệu từ niên giám thống kê cấp tỉnh và phương pháp đo lường năng suất tổng hợp Färe-Primont, hiệu quả nguồn lực và phân tác các thành phần của năng suất tổng hợp. Kết quả chính cho thấy sự sụt giảm đà tăng trưởng năng suất tổng hợp và tăng trưởng kinh tế của ĐNB trong những năm từ 2016 đến 2021. Sự khác biệt giữa các tỉnh/ thành về vấn đề tăng trưởng, năng suất, hiệu quả và chất lượng tăng trưởng là rất rõ ràng. Dư địa nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực là khá lớn, và có thể tăng GRDP của toàn vùng khoảng 10%, tương đương 180 ngàn tỷ đồng mỗi năm. Kết quả cũng minh chứng về sự tác động của dịch bệnh và khó khăn khác trên thế giới tạo nên tác động kép tiêu cực tới xu thế giảm sút về tăng trưởng kinh tế cũng như năng suất tổng hợp và tính hiệu quả của việc sử dụng nguồn lực. Vì vậy, giải pháp về nâng cao chất lượng nguồn lực gắn liền với hiệu quả sử dụng vốn được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao tăng trưởng năng suất tổng hợp. <br> Abstract <br><br>
This study analyzes the efficiency and productivity of the Southeastern provinces in Vietnam during the period from 2010 to 2021. This paper utilizes data from the provincial statistical yearbooks and employs the Färe-Primont technique to measure total factor productivity (TFP), efficiency, and decomposition of the components of TFP. The key results indicate a decline in the growth momentum of both TFP and economic growth in the Southeastern provinces from 2016 to 2021. This study highlights the substantial variations in growth, productivity, efficiency, and quality of growth across the provinces. There is considerable potential for improving resource use efficiency, which could increase the gross regional domestic product (GRDP) of the entire region by around 10%, equivalent to VND 180 trillion per year. The results also demonstrate the negative impact of the global pandemic and other issues on economic growth, as well as total factor productivity and resource use efficiency. Therefore, the solution to improving the quality of resources, which is closely linked to the efficiency of capital use, is expected to contribute to enhancing overall productivity growth.
2025, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ 4.0, các doanh nghiệp Việt Nam đang cân nhắc chuyển đổi sử dụng các giải pháp kỹ thuật số để nâng cao năng suất, hiệu quả và khả năng cạnh tranh. Tuy nhiên, áp dụng công nghệ 4.0 tại Việt Nam đang gặp phải nhiều thách thức, bao gồm các vấn đề liên quan đến công nghệ hiện tại của doanh nghiệp, đặc điểm tổ chức và môi trường bên ngoài. Kết quả phân tích mô hình hành vi đầu tư của 2.734 doanh nghiệp vùng Đông Nam Bộ cho thấy chỉ có 24,18% doanh nghiệp áp dụng công nghệ 4.0, trong đó thể chế, năng lực ứng dụng công nghệ thông tin, trình độ lao động trong doanh nghiệp là nhóm các yếu tố chính tác động đến quyết định ứng dụng công nghệ 4.0 của doanh nghiệp vùng ĐNB. <br><br>Abstract: <br>
With the rapid development of 4.0 technologies such as the Internet of Things, artificial intelligence, and big data, Vietnamese enterprises are swiftly transforming the use of digital solutions to improve productivity, efficiency, and competitiveness. However, the adoption of technology 4.0 in Vietnam is facing many challenges including issues related to information infrastructure, organization characteristics, and external environment. This study analyzes the current status of 4.0 technology application and factors affecting the decision to apply 4.0 technology to 2,734 enterprises in the Southeast region. The results of the analysis of investment behavior models of enterprises show that only 24,18 percent of enterprises applied 4.0 technologies. The adoption of 4.0 technologies faces several key barriers and challenges, including the institutional environment, the capacity for information technology application, and the skill levels of the workforce in enterprises.
2025, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Nghiên cứu này đánh giá tác động của các rào cản đối với ứng dụng công nghệ 4.0, năng lực chuỗi cung ứng và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam. Dựa trên quan điểm của lý thuyết dự phòng và lý thuyết nguồn lực, mô hình nghiên cứu được đề xuất với với 09 giả thuyết và được thử nghiệm trên 322 doanh nghiệp dệt may. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS và AMOS. Kết quả cho thấy các rào cản bên trong và bên ngoài có tác động tiêu cực đến việc ứng dụng công nghệ 4.0, năng lực chuỗi cung ứng và hiệu suất hoạt động. Đồng thời, việc ứng dụng công nghệ 4.0 cải thiện năng lực của chuỗi cung ứng cũng như hiệu quả hoạt động. Nghiên cứu cũng đề xuất một số hàm ý nhằm ứng dụng công nghệ 4.0 thành công hơn. <br><br> Abstract <br> Abstract
This study evaluates the impact of barriers on the application of 4.0 technology, supply chain capacity and operational efficiency of Vietnamese textile, and garment enterprises. Based on the perspective of contingency theory and resource theory, the research model is proposed with 09 hypotheses and tested on 322 textile enterprises. Data were processed using SPSS and AMOS. The results show that internal and external barriers have a negative impact on the application of 4.0 technology, supply chain capacity, and operational performance. At the same time, the application of 4.0 technology improves supply chain capacity as well as operational efficiency. The study also proposes some implications for the more successful application of 4.0 technology.