Thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp mây tre đan vùng đồng bằng sông Hồng
Bui Huu duc
DOI:
Email:
Đơn vị công tác:
Ngày nhận bài: 06/02/2018
Ngày nhận bài sửa: 19/12/2020
Ngày duyệt đăng: 01/09/2009
Ngày xuất bản: 06/02/2018
Lượt xem: 5
Downloads: 0
Các định dạng trích dẫn
Tóm tắt
Hoạt động xuất khẩu hàng mây tre đan nước ta nói chung, vùng Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) nói riêng trong thời gian qua đã thu được những kết quả đáng khích lệ, góp phần khôi phục và phát triển các làng nghề mây tre đan truyền thống ở các vùng nông thôn. Trong đó, các doanh nghiệp xuất khẩu mây tre đan có một vai trò quan trọng như là những hạt nhân không thể thiếu trong các làng nghề. Mặc dù trong năm 2008 và những tháng đầu năm 2009, hoạt động xuất khẩu mây tre đan của các doanh nghiệp nước ta nói chung, vùng ĐBSH nói riêng gặp nhiều trở ngại do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới, nhiều doanh nghiệp mây tre đan trong vùng rơi vào tình trạng sản xuất cầm chừng, nhưng vẫn có cơ sở để tin tưởng rằng xuất khẩu hàng mây tre đan sẽ lấy lại được đà tăng trưởng khi nền kinh tế thế giới vượt qua giai đoạn khó khăn. Bài viết này tập trung phân tích những khó khăn chủ yếu trong hoạt động sản xuất và xuất khẩu hàng mây tre đan của các doanh nghiệp mây tre đan vùng ĐBSH qua kết quả điều tra, qua đó kiến nghị các giải pháp cần thực hiện từ phía các cơ quan quản lý nhà nước và các doanh nghiệp nhằm tháo gỡ khó khăn và thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng này trong thời gian tới.
2020, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Nghiên cứu tìm hiểu vai trò của FDI đối với năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam thông qua việc phân tích và sử dụng bộ dữ liệu bảng với gần 140.000 quan sát trong giai đoạn 2011–2013. Mô hình Heckman giúp kiểm soát vấn đề thiên lệch trong chọn mẫu và ước lượng đồng thời hai quyết định của doanh nghiệp là tham gia và tỉ trọng xuất khẩu. Kết quả ước lượng cho thấy FDI có ảnh hưởng đáng kể đến năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước, hay nói cách khác là tồn tại hiệu ứng lan toả xuất khẩu. Các doanh nghiệp tư nhân có thâm niên hoạt động, có mức độ vốn hóa cao và hoạt động ở khu vực miền Bắc và miền Trung được hưởng lợi nhiều hơn từ hiệu ứng lan toả xuất khẩu. Theo đó, các kiến nghị chính sách được tập trung hỗ trợ cho khu vực doanh nghiệp tư nhân.
2025, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Bài báo này sử dụng đồng thời các biến cấu trúc bậc 1 và cấu trúc bậc 2 để đánh giá mối quan hệ giữa năng lực quá trình tri thức và năng lực đổi mới. Trong đó, quá trình tri thức là biến cấu trúc bậc 2 gồm có 3 nhân tố là sáng tạo tri thức, phổ biến tri thức và ứng dụng tri thức. Năng lực đổi mới cũng là biến cấu trúc bậc 2 gồm 2 nhân tố là tốc độ đổi mới và chất lượng đổi mới. Kết quả ước lượng các biến cấu trúc bậc 2 đối với 297 cán bộ, giảng viên làm việc tại 35 trường Đại học công lập và dân lập tại 10 tỉnh/thành phố của Việt Nam theo mô hình PLS-SEM chỉ ra rằng năng lực quá trình tri thức tác động tích cực tới năng lực đổi mới. Ngoài ra, kết quả phân tích biến cấu trúc bậc 1 cho thấy hầu hết các nhân tố của quá trình năng lực tri thức tác động tích cực tới tốc độ đổi mới và chất lượng đổi mới. Đồng thời, ứng dụng tri thức là trung gian trong mối quan hệ giữa sáng tạo tri thức và tốc độ đổi mới cũng như chất lượng đổi mới.
2025, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Nghiên cứu làm rõ cách thức tác động của lãnh đạo định hướng tri thức trong việc nâng cao hiệu quả đổi mới của tổ chức, đồng thời năng lực hấp thụ và năng lực phân tích dữ liệu lớn được đưa vào mô hình với vai trò như thành tố trung gian và điều tiết. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập thông qua bảng hỏi khảo sát 488 nhân sự thuộc các doanh nghiệp đang trong quá trình chuyển đổi số ở Việt Nam, sau đó được phân tích định lượng bằng phương pháp PLS-SEM. Kết quả nghiên cứu xác nhận năng lực hấp thụ là trung gian trong mối liên hệ mật thiết của lãnh đạo định hướng tri thức và hiệu quả đổi mới. Ngoài ra, khi tác động điều tiết của năng lực phân tích dữ liệu lớn được phát huy, vai trò của năng lực hấp thụ tới hiệu quả đổi mới cũng được tăng cường. <br><br> Abstract <br>
This study combines the knowledge-based view theory and dynamic capabilities theory to examine the impact of knowledge-oriented leadership on innovation performance, highlighting the roles of absorptive capacity and big data analytics capabilities. Quantitative data were collected through a structured questionnaire survey from employees of digital transformation enterprises in Vietnam and analyzed through the PLS-SEM method. The findings suggest that knowledge-oriented leadership influences innovation performance both directly and indirectly through absorptive capacity. Additionally, when big data analytics capabilities are high, the positive relationship between absorptive capacity and innovation performance becomes more pronounced.
2025, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
COVID-19 là một khủng hoảng toàn cầu chưa có tiền lệ, tác động tiêu cực của đại dịch này đến các doanh nghiệp và các chuỗi đã được đề cập rộng rãi. Theo đó, việc tái cấu trúc chuỗi cung ứng và doanh nghiệp sau COVID-19 ngày càng thu hút sự quan tâm của các doanh nghiệp và các nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, các nghiên cứu định lượng về vấn đề này chưa nhiều. Dựa trên lý thuyết phục hồi chuỗi cung ứng và lý thuyết năng lực động, nghiên cứu này thực nghiệm cách các công ty giao nhận vận tải hàng xuất nhập khẩu trong chuỗi cung ứng vận tải cấu trúc lại doanh nghiệp để trở nên linh hoạt và cạnh tranh hơn. Thông qua phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính dữ liệu từ 504 quản lý cấp cao và xem xét các chiến lược phản ứng của các công ty giao nhận vận tải hàng xuất nhập khẩu bằng phần mềm SmartPLS, nghiên cứu xác định cách thức một công ty ngành logistics có thể chống chịu và vượt qua đại dịch để phát triển. Phát hiện này đóng góp vào các lý thuyết liên quan, đặc biệt là lý thuyết phục hồi chuỗi cung ứng sau khủng hoảng, thực tiễn và các mục tiêu phát triển bền vững của các công ty giao nhận vận tải khi đối mặt với các khủng hoảng trong tương lai. <br><br><strong>Abstract</strong><br>
COVID-19 is an unprecedented global crisis and its negative impact on businesses and chains has been widely discussed. Thus, the restructuring of supply chains and businesses after COVID-19 is increasingly attracting the attention of businesses and researchers. However, there are not many quantitative studies on this issue. Based on supply chain recovery theory and dynamic capacity theory, this study examines how freight forwarders in the transportation supply chain restructure their businesses to become more agile and resilient. more competitive. Through analyzing the structural equation modeling of data from 504 senior managers and examining the response strategies of freight forwarding companies by SmartPLS software, the study determines how a freight forwarder can withstand and overcome the pandemic to develop. This finding contributes to related theories, especially the theory of post-crisis supply chain recovery, practices and sustainable development goals of freight forwarders in the face of future crises.
2025, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Nhằm thu hẹp khoảng cách tiếp cận dịch vụ ngân hàng số giữa khu vực thành thị và nông thôn, bài nghiên cứu được thực hiện nhằm tìm hiểu sự khác biệt về những yếu tố tác động đến hành vi chấp nhận sử dụng dịch vụ ngân hàng số dựa trên đặc điểm nhân khẩu học. Mô hình nghiên cứu bao gồm bốn biến là Cảm nhận tính hữu dụng, cảm nhận tính dễ sử dụng, cảm nhận sự an toàn và hành vi tiêu dùng. Dữ liệu nghiên cứu được khảo sát từ 1172 người đã và đang sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử tại hai khu vực Thành phố Hồ Chí Minh và đồng bằng sông Cửu Long, đây là hai khu vực có mức độ tiếp cận dịch vụ ngân hàng số khác nhau. Để xử lý dữ liệu, bài viết sử dụng phương pháp phân tích cấu trúc tuyến tính (SEM) và phần mềm SmartPLS 3.0. Kết quả nghiên cứu cho thấy cảm nhận dễ sử dụng dịch vụ có sự khác biệt giữa hai khu vực này, mặc dù sự khác biệt không lớn. Ngoài ra, cũng có sự khác biệt về tác động của việc cảm nhận sự an toàn đến hành vi tiêu dùng của người dân tại hai khu vực này. Dựa trên kết quả nghiên cứu, bài viết đã đề xuất hàm ý cho các giải pháp nhằm thúc đẩy hành vi chấp nhận sử dụng dịch vụ của người dùng ngân hàng số. <br><br>Abstract <br>
To narrow the gap in accessing digital banking services between urban and rural areas, the study was conducted to find out the differences in factors affecting the behavior of accepting digital banking services based on demographic characteristics. The research model includes four variables: Perceived usefulness, perceived ease of use, perceived safety, and consumer behavior. Research data is surveyed from 1172 people who have been using e-banking services in two areas of Ho Chi Minh City and the Mekong Delta, these are two areas with different levels of access to digital banking services. To process data, the article uses linear structural analysis (SEM) and SmartPLS 3.0 software. Research results show that there is a difference in perceived ease of use between these two regions although the difference is not large. There are also differences in the impact of perceived safety on the consumption behavior of people in these two regions. Based on the research results, the article proposes implications for solutions to promote the acceptance behavior of digital banking users.