Đơn vị công tác: Truong dai hoc Ngoai thuong - Co so II tai TP.HCM
Ngày nhận bài: 25/11/2024
Ngày nhận bài sửa:
30/12/2024
Ngày duyệt đăng: 26/03/2025
Lượt xem: 56
Downloads: 1
Các định dạng trích dẫn
Tóm tắt
Bài viết nghiên cứu tác động của các đối thủ cạnh tranh trong khu vực phi chính thức đến mức độ xuất khẩu của doanh nghiệp tại Việt Nam. Với mẫu gồm 1.857 quan sát từ bộ dữ liệu điều tra doanh nghiệp của Ngân hàng Thế giới, tác giả nhận thấy các đối thủ cạnh tranh trong khu vực phi chính thức có tác động tiêu cực đến cả khả năng tham gia xuất khẩu và cường độ xuất khẩu của doanh nghiệp. Các kết quả này mang đến hàm ý cho các nhà hoạch định chính sách rằng cần phải có chính sách quản lý các hoạt động kinh tế phi chính thức để khuyến khích xuất khẩu. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cần lựa chọn địa điểm đầu tư có môi trường kinh doanh minh bạch và có khu vực kinh tế phi chính thức không đáng kể để có thể phát triển tốt hoạt động xuất khẩu.
Abstract
This paper examines the impact of competitors in the informal sector on firms' export performance in Vietnam. The sample includes 1,857 observations from the World Bank’s enterprise survey. Research findings show that competitors in the informal sector have negative impacts on both the likelihood of exporting and export intensity of firms in the formal sector. Consequently, policymakers should effectively manage informal economic activities in order to promote exports. Furthermore, firms should choose an investment destination which has a transparent business environment and a minimal presence of informal sector activities to enhance their export performance.
Từ khóa
Cạnh tranh; Khu vực phi chính thức; Doanh nghiệp; Xuất khẩu; Việt Nam. Competition; Informal sector; Enterprise; Export; Vietnam.
2026, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Sự phát triển của mạng xã hội đã thay đổi căn bản cách thức phát sinh, lan truyền và tiếp nhận thông tin khủng hoảng. Nghiên cứu này phân tích vai trò của TikTok và YouTube trong việc phổ biến thông tin khủng hoảng "thịt lợn bệnh" của Tập đoàn X tại Việt Nam (5/2025) bằng phương pháp phân tích mạng. Dữ liệu được thu thập từ 30/5-15/6/2025, bao gồm user-hashtag trên TikTok (584 nút, 726 cạnh) và user-video trên YouTube (60 video). Nghiên cứu sử dụng các chỉ số từ lý thuyết đồ thị như Centrality, Betweenness, Closeness, PageRank; phát hiện cộng đồng bằng thuật toán Louvain và trực quan hóa bằng force-directed. Với YouTube, nghiên cứu bổ sung phân tích xu hướng thời gian, trích xuất từ khóa (TF-IDF) và phân tích cảm xúc bình luận. Kết quả cho thấy TikTok lan truyền thông tin nhanh nhờ cơ chế gợi ý và hashtag, trong khi YouTube thúc đẩy thảo luận sâu và phản ánh rõ cảm xúc cộng đồng. Cả hai nền tảng bổ trợ cho nhau trong định hình và khuếch đại thông tin khủng hoảng. Nghiên cứu đề xuất doanh nghiệp và cơ quan quản lý cần giám sát đa nền tảng, điều chỉnh phản hồi theo đặc thù kênh, và ứng dụng phân tích mạng để xác định tác nhân ảnh hưởng, giảm thiểu tác động tiêu cực và hỗ trợ xử lý khủng hoảng truyền thông. <br><br>Abstract <br>
The development of social media has fundamentally changed the way crisis information is generated, disseminated, and received. This study analyzes the roles of TikTok and YouTube in disseminating information about the Group X's "sick pork" crisis in Vietnam (5/2025) using network analysis. Data were collected from May 30 to June 15, 2025, including user-hashtags on TikTok (584 nodes, 726 edges) and user-videos on YouTube (60 videos). The study uses graph theory metrics such as Centrality, Betweenness, Closeness, PageRank; community detection using the Louvain algorithm and force-directed visualization. For YouTube, the study adds time trend analysis, keyword extraction (TF-IDF), and comment sentiment analysis. The results show that TikTok spreads information quickly thanks to its recommendation and hashtag mechanisms, while YouTube promotes in-depth discussions and clearly reflects community sentiment. Both platforms complement each other in shaping and amplifying crisis messages. The study recommends that businesses and regulators monitor multiple platforms, tailor responses to channel characteristics, and apply network analytics to identify influencers, mitigate negative impacts, and support crisis communications.
2025, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Ở các quốc gia khác, nhiều mô hình nghiên cứu đã được sử dụng để nghiên cứu về hành vi tiêu dùng xanh. Tuy nhiên tại Việt Nam, nền tảng lý thuyết và các nghiên cứu liên quan vẫn còn rất hạn chế. Dựa trên thuyết hành động hợp lý, thuyết kích thích môi trường và nhận thức về giá, đồng thời căn cứ vào sự tranh luận giữa các kết quả nghiên cứu trước đây, nghiên cứu này kiểm định sự tác động của chủ nghĩa hoài nghi xanh, kiến thức chủ quan về môi trường, sự quan tâm đến môi trường, sự nhận thức về giá và sự thờ ơ đối với chủ nghĩa môi trường đến sự sẵn lòng tiêu dùng xanh của khách hàng (sản phẩm cụ thể là xăng sinh học E5). Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích định lượng trên mẫu khảo sát gồm 539 người tiêu dùng tại TP.HCM để đánh giá thang đo và kiểm định mô hình bằng phương pháp phân tích SEM. Kết quả cho thấy chủ nghĩa hoài nghi xanh, sự thờ ơ đối với chủ nghĩa môi trường có tác động tiêu cực đến sự sẵn lòng tiêu dùng xăng E5; còn sự quan tâm đến môi trường có tác động tích cực. Trong đó, chủ nghĩa hoài nghi xanh có ảnh hưởng lớn nhất, và sự quan tâm đến môi trường có ảnh hưởng nhỏ nhất. Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy sự sẵn lòng tiêu dùng sản phẩm xanh nói chung và sự sẵn lòng tiêu dùng xăng sinh học E5 nói riêng của người tiêu dùng tại TP.HCM. <br><br> Abstract <br>
Based on rational action theory, environmental stimulus and price perception theory, and the debate between previous research results, this study examines the impact of green skepticism, subjective environmental knowledge, environmental concern, price consciousness, and environmental apathy on customers’ willingness to buy green (the product is E5 biofuel). The study used quantitative analysis methods on a survey of 539 consumers in Ho Chi Minh City to evaluate the scale and test the model using the SEM analysis method. The findings confirm that green skepticism and environmental apathy negatively impact the willingness to consume E5 biofuels, and environmental concern has a positive impact. In particular, green skepticism has the most significant influence, and environmental concern has the most negligible influence. The study proposes several measures to promote consumers’ willingness to buy green goods in general and the willingness to use E5 biofuel in Ho Chi Minh City.
2025, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Mục tiêu của nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự hợp tác trong chuỗi cung ứng và tác động của sự hợp tác trong chuỗi cung ứng đến hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ việc phỏng vấn 225 cơ sở sản xuất, kinh doanh và doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam. Các phương pháp phân tích dữ liệu được sử dụng gồm kiểm định độ tin cậy của thang đo, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích nhân tố khẳng định (CFA) và mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM). Kết quả nghiên cứu cho thấy, mức độ tin cậy giữa các đối tác, văn hoá hợp tác, sự thuần thục trong quá trình hợp tác và sự hỗ trợ của chính phủ có ảnh hưởng tích cực đến sự hợp tác giữa các chủ thể trong chuỗi cung ứng thuỷ sản xuất khẩu. Kết quả nghiên cứu cũng xác nhận tác động tích cực của sự hợp tác trong chuỗi cung ứng đối với hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng thuỷ sản xuất khẩu. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị đối với doanh nghiệp, Hiệp hội ngành hàng và Chính phủ nhằm thúc đẩy sự hợp tác trong chuỗi cung ứng thuỷ sản xuất khẩu tại Việt Nam.
2025, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến áp dụng quản lý chuỗi cung ứng xanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại một số địa phương ở Việt Nam. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 259 doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Hà Nội, Quảng Ninh và TP. Hồ Chí Minh. Các phương pháp phân tích dữ liệu được sử dụng gồm kiểm định độ tin cậy của thang đo, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích nhân tố khẳng định (CFA) và mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM). Kết quả nghiên cứu cho thấy, sự hỗ trợ của Chính phủ, các quy định môi trường, định hướng chiến lược và các nguồn lực của doanh nghiệp là những yếu tố có tác động tích cực đến việc áp dụng quản lý chuỗi cung ứng xanh. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các khuyến nghị nhằm thúc đẩy các sáng kiến và thực hành xanh trong chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. <br><br>Abstract <br>
The objective of this study is to identify factors affecting the application of green supply chain management by small and medium-sized enterprises in some provinces and cities of Vietnam. Research data was collected from 259 small and medium-sized enterprises in Hanoi, Quang Ninh, and Ho Chi Minh city. Data analysis methods applied in this study include testing the reliability of the scale, exploratory factor analysis (EFA), confirmatory factor analysis (CFA), and linear structural modeling (SEM). Research results show that Government Support, Environmental Regulations, Strategic Direction, and Business Resources are factors that have positive impacts on the application of green supply chain management. On that basis, the study proposes recommendations to promote green initiatives and practices in the supply chain of small and medium-sized enterprises