Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng mẫu quan sát gồm 30 ngân hàng thương mại (NHTM) nội địa ở thị trường Việt Nam trong giai đoạn 2005-2020, để đo lường tác động của hoạt động ngân hàng ngầm đến khả năng sinh lời và rủi ro của NHTM. Kết quả nghiên cứu cho thấy, với thước đo tổng thu nhập từ tất cả các hoạt động ngân hàng ngầm, hay theo phương pháp khấu trừ tài sản, khả năng sinh lời của NHTM nội địa tăng lên khi hoạt động ngân hàng ngầm gia tăng. Tiếp cận hoạt động ngân hàng ngầm theo phương pháp khấu trừ cũng cho thấy tăng quy mô tài sản ngầm góp phần làm tăng rủi ro tín dụng. Với cách tiếp cận qua quy mô các tổ chức tài chính phi ngân hàng, tỷ trọng tài sản công ty tài chính và cho thuê tài chính so với tổng tài sản các ngân hàng có tương quan cùng chiều với khả năng sinh lời của NHTM. Nhưng nếu quy mô cho vay của công ty chứng khoán tăng, khả năng sinh lời của ngân hàng giảm đi.
Abstract
This paper examines the impact of shadow banking on the commercial banks’ performance and risk using a sample of 30 domestic commercial banks in Vietnam in the period of 2005–2020. The research results show that with the measure of total income from all shadow banking services, or by the deduction approach, the profitability of domestic commercial banks increases when shadow banking activities increase. The deduction approach also shows that an increase in the size of shadow assets contributes to an increase in credit risk. For the estimation of shadow banking through the scale of non-bank financial institutions, the size of financing and leasing companies compared to total assets of banks have a positive effect on profitability of commercial banks, while the loan proportions of securities companies reduce bank performance.
Từ khóa
ngân hàng ngầm, khả năng sinh lời, rủi ro tín dụng, Việt Nam Shadow banking; Bank performance; Credit risk; Vietnam
2025, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Nghiên cứu này phân tích tác động của phát triển công nghệ tài chính (FinTech) đến hiệu quả hoạt động của 214 ngân hàng thuộc năm quốc gia Đông Nam Á trong giai đoạn 2010–2023, đồng thời xem xét vai trò điều tiết của chất lượng quản trị quốc gia trong mối quan hệ này. Bằng cách kết hợp các phương pháp hồi quy Pooled OLS và GMM, kết quả cho thấy FinTech có ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận ngân hàng, đặc biệt đối với các ngân hàng quy mô nhỏ do áp lực cạnh tranh gia tăng. Tuy nhiên, FinTech góp phần làm giảm tỷ lệ nợ xấu nhờ mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng cho các nhóm khách hàng rủi ro thấp. Hơn nữa, tác động tích cực của FinTech đến hiệu quả hoạt động ngân hàng được ghi nhận rõ rệt hơn ở các quốc gia có chất lượng quản trị cao. Các kết quả vẫn duy trì độ tin cậy sau khi kiểm soát vấn đề nội sinh giữa FinTech và hiệu quả hoạt động ngân hàng. <br><br> Abstract <br>
This paper examines how financial technology (FinTech) influences the performance of 214 commercial banks across five Southeast Asian countries between 2010 and 2023, with a particular emphasis on the moderating role of national governance quality. Using Pooled OLS and GMM estimations, the results indicate that an increase in FinTech startups is associated with lower bank profitability, especially among smaller banks, due to intensified market competition. Nevertheless, FinTech development helps reduce non-performing loan ratios by expanding credit access to underserved segments. Moreover, the study finds that the beneficial impact of FinTech on bank performance is significantly stronger in countries with higher governance quality. These results remain robust after accounting for dynamic endogeneity within the FinTech–bank performance nexus.
2025, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Nghiên cứu này tiếp cận theo phương pháp trắc lượng thư mục toàn diện về quá trình chuyển đổi carbon-khí hậu trong lĩnh vực ngân hàng. Dựa trên sơ đồ tổng quan tài liệu hệ thống PRISMA, tác giả đã tổng hợp được 42 nghiên cứu chính từ 193 tài liệu từ Scopus trong giai đoạn 2010 đến 2024. Từ đó, thông qua công cụ VOSviewer, nghiên cứu đã xác định 06 cụm nghiên cứu mới nổi: (1) Đánh giá rủi ro khí hậu, (2) Hệ thống tài chính và ổn định, (3) Tài chính carbon, (4) Biến đổi khí hậu và chuyển đổi (5) Hoạt động ngân hàng và (6) Chính sách và quy định. Các xu hướng nghiên cứu này làm nổi bật sự đa dạng của lĩnh vực này đồng thời nhấn mạnh sự nhấn mạnh hàm ý chính sách ứng dụng cho khu vực cũng như vấn đề rủi ro hệ thống. Ngoài ra, các khoảng trống nghiên cứu được xác định trong nghiên cứu cung cấp một lộ trình cho nghiên cứu trong tương lai, nhấn mạnh nhu cầu đổi mới phương pháp liên tục và các ứng dụng thực tế để giải quyết hiệu quả các rủi ro tài chính liên quan đến khí hậu. <br><br> Abstract <br>
This study takes a comprehensive bibliometric approach to the carbon-climate transition in the banking sector. Using the PRISMA screening process to ensure the systematicity of the data, the author synthesized 42 main studies from 193 publications in Scopus during the period 2010 to 2024. From there, through the VOSviewer tool, the study has identified 06 emerging research clusters: (1) Climate risk assessment, (2) Financial system and stability, (3) Carbon finance, (4) Climate change and transition (5) Banking operations and (6) Policy and regulation. These research trends highlight the diversity of the field while emphasizing the emphasis on policy implications for the region as well as systemic risk issues. Additionally, the emerging research themes identified from the intersection of topic clusters suggest future directions, highlighting the need for continuous methodological innovation and practical applications to effectively address climate-related financial risks.
2025, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Bài nghiên cứu này đánh giá tác động của hoạt động đổi mới sáng tạo (ĐMST) đến kết quả kinh doanh (KQKD) của 18 ngân hàng niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) và sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) trong giai đoạn từ năm 2010 đến thời điểm ngày 31/12/2020. Kết quả mô hình hồi quy đa biến của bài nghiên cứu đã chỉ ra rằng ĐMST quy trình có tác động tích cực đến KQKD của các ngân hàng. Tuy nhiên, hoạt động ĐMST tổ chức có tác động ngược chiều đến KQKD. Trong khi đó, hoạt động ĐMST sản phẩm không thể hiện mối quan hệ với KQKD của ngân hàng.
2025, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Sự ổn định của hệ thống ngân hàng bị đe dọa bởi hậu quả của đại dịch COVID-19 khi nợ xấu tăng, doanh thu giảm và các rủi ro phá sản tiềm ẩn của doanh nghiệp. Các ngân hàng thương mại Việt Nam đang chịu ảnh hưởng của dịch bệnh khi nguồn vốn huy động tồn dư và nhu cầu vay vốn giảm dần. Bài viết này nhằm mục đích đo lường hiệu quả của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong hai giai đoạn, trước và trong đại dịch COVID-19 bằng phương pháp phân tích bao dữ liệu. Ngoài ra, các yếu tố ảnh hưởng đến sự hiệu quả của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn này được phân tích bằng mô hình hồi quy Tobit. Bài nghiên cứu chỉ ra rằng, hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả kỹ thuật thuần và hiệu quả quy mô của 31 ngân hàng thương mại Việt Nam giảm mạnh trong giai đoạn dịch bệnh. Hơn thế nữa, bài viết đã tìm ra mối liên hệ giữa hiệu quả của hệ thống ngân hàng và số ngày giãn cách xã hội tại Việt Nam.
2025, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á
Mở rộng
Tóm tắt
Bằng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng, nghiên cứu tập trung đo lường tác động của cạnh tranh ngân hàng đến phát triển tài chính toàn diện (Financial Inclusion – FI) tại Việt Nam trong giai đoạn 2006 – 2018. Kết quả nghiên cứu đáng tin cậy cho thấy cạnh tranh ngân hàng có ảnh hưởng tích cực đến FI. Đây là bằng chứng thực nghiệm quan trọng đối với các nhà quản lý ngân hàng, các nhà hoạch định chính sách. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm giúp các ngân hàng xây dựng chiến lược cạnh tranh, đóng góp vào kế hoạch phát triển FI cho đất nước trong thời gian tới.